CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN PHỤC VỤ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1.1 Các nghiên cứu về hệ kinh tế sinh thái, mô hình hệ kinh tế sinh thái 1.1 Trên thế giới Trong khoa học địa lý, KTST xuất hiện vào những năm 80 của thế kỉ XX với các mô hình hệ KTST được khởi nguồn từ Liên Xô, điển hình như Geraximov I.P (1979), Sishenko (1991) đã đề xuất các mô hình cho từng vùng trên lãnh thổ Liên bang Nga hay mô hình PTBV ngành nông nghiệp cho khu vực thảo nguyên Nam Ucraina. Ở phương Tây, các tác giả tiêu biểu như Conway G. cũng đã tập trung nghiên cứu hệ KTST và các mô hình theo hướng tổng hợp hoặc chuyên sâu. Nhiều bài báo của Costanza R.
đều đề cập đến nhiều khía cạnh của mô hình sinh thái trong thời đại mới. Trong bài What is ecological economics (1989) [155] của Costanza R. đã khẳng định sự gắn kết giữa kinh tế và sinh thái, không tồn tại ranh giới hay sự tách bạch giữa hai phạm trù này; đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tới việc giải quyết các mối quan hệ giữa các hệ sinh thái và hệ thống kinh tế theo nghĩa rộng nhất, đó là nhiệm vụ của các nhà KTST. Năm 1997, trong cuốn An introduction to ecological economics ông và đồng nghiệp một lần nữa chỉ rõ các vấn đề, nguyên tắc của KTST cũng như vai trò, chính sách, thể chế của các tổ chức nhằm thích ứng với quá trình đánh giá KTST và quản lí bảo vệ môi trường sống [154].
Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về KTST ở quy mô rộng, ở một số khu vực có ĐKTN đặc thù các học giả tập trung đề xuất các mô hình hệ KTST, phổ biến cho khu vực miền núi cao là các mô hình nông lâm kết hợp, thể hiện trong công trình An introduction to agroforestry, của P.K Nair [166] có các nội dung liên quan đến các thành phần (điều kiện xây dựng) và mô hình nông lâm kết hợp. Ở khu vực 7 Đông Nam Á, Trung Mỹ để phù hợp với đặc thù về ĐKTN, TNTN các mô hình hệ KTST được đề xuất tập trung theo hướng phát triển nông, lâm kết hợp. Ví dụ như, ở khu vực Trung Mỹ, các nước nằm trong miền khí hậu nhiệt đới chủ yếu trồng xen kẽ các loại cây với nhau: cây ăn quả (dừa, đu đủ, cam, quýt) - cây công nghiệp (ca cao, cà phê, ngô) và các loại cây làm lớp phủ như bí đao – mô hình này được xem là “bắt chước cấu hình phân lớp của các khu rừng nhiệt đới hỗn hợp” (Wilken, 1977); ở Philippines các mô hình canh tác khá phức tạp (gọi là Hanunoo), trong đó, để trồng cây lương thực dưới tán rừng có độ ẩm cao, người dân chủ động tỉa bỏ đi một số cây nhất định để tạo tán cây mới vào cuối mùa vụ nhằm hạn chế khả năng đất tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời; ở Indonexia, mô hình Homegaderns khá phổ biến, đó là sự kết hợp nhà vườn sinh thái, cây thân thảo, cây thân gỗ, cây ăn quả và gia súc; còn ở Malayxia, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ người dân lựa chọn mô hình Taungya – tiền thân của nông lâm kết hợp, thể hiện sự kết hợp giữa việc trồng cây nông nghiệp hàng năm với các cây lâm nghiệp trong những năm đầu hình thành rừng, đơn giản có thể gọi là làng rừng. Còn ở châu Phi, do điều kiện khí hậu khô nóng nên các mô hình chủ yếu là trồng cây dưới tán các loại cây như khoai mỡ, bí ngô, đậu (Forde, 1937) hay lựa chọn các loại cây thân thảo, cây bụi xen kẽ với các loại cây trồng – đây là mô hình không quá tiên tiến như các khu vực khác, song lại có khả năng duy trì chất dinh dưỡng, hạn chế khả năng bị rửa trôi và xói mòn, phù hợp với điều kiện sinh thái (Ojo, 1966).
Bên cạnh các mô hình kinh tế cụ thể, các tác giả Nair (1983), Young (1984) cũng đã đưa ra các khuyến nghị về công nghệ trong quá trình áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp cho các vùng đồi núi, các khu vực đất dốc hoặc các khu vực cần cải tạo đất [166], chú trọng đến các loại cây đa mục đích hay cây bản địa có khả năng giữ đất, cải tạo đất được lựa chọn trồng xen canh với nhau. Như vậy, xu hướng nghiên cứu hệ KTST là một lĩnh vực phát triển đa hướng nhằm mục đích cải thiện và mở rộng các lý thuyết kinh tế để tích hợp các hệ thống tự nhiên của Trái Đất với giá trị, sức khỏe và phúc lợi con người [177]. Sự kết hợp kinh tế - sinh thái đạt đến tầm cao mới được đánh dấu bằng sự ra đời của tổ chức Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái (ISEE) vào năm 1989 với mục 8 đích thúc đẩy sự phát triển của khoa học KTST, hỗ trợ liên kết giữa các nhà KTST và các nhà nghiên cứu xã hội có liên quan. ISEE hiện được thành lập tại 10 quốc gia và khu vực, đã tổ chức 15 hội nghị quốc tế quan trọng và đã xuất bản tạp chí chuyên ngành KTST tạo điều kiện cho các nhà KTST thể hiện quan điểm, hoàn thiện cơ sở lí luận về mô hình hệ KTST đa diện.2 Ở Việt Nam Nhà Địa lý học Phạm Quang Anh (1995) lần đầu tiên ở Việt Nam đưa tiếp cận KTST vào nghiên cứu STCQ với mô hình hệ KTST gồm 3 phân hệ chính (tự nhiên, kinh tế, xã hội) trong mối quan hệ tương tác với nhau dưới sự điều khiển và quản lý của con người, được áp dụng nghiên cứu thực tiễn trong công trình “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam (Lấy một số địa phương ở Đắc Lắc, Thanh hóa, Ninh Bình làm ví dụ)” (1996).
Tiếp theo, các tác giả Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998), Phạm Quang Vinh và nnk (2009) đã nêu ra khả năng khai thác tiềm năng sinh thái tại các khu vực có độ dốc lớn, đề xuất các mô hình hệ KTST phù hợp với các tỉnh miền núi Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu về mô hình hệ KTST tại các vùng cửa sông Bạch Đằng, vùng đất trũng Hoa Lư, vùng cồn cát ven biển Phù Mỹ, vùng gò đồi Đông Hà…, nhóm tác giả Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999) đã bổ sung cơ sở lí luận về xây dựng mô hình hệ KTST, còn trong công trình “Vấn đề KTST Việt Nam” của Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Pháp (1993) đã nêu bật vị trí quan trọng về KTST ở các lãnh thổ đất cao, các HST vùng gò đồi. Đối với lãnh thổ biển – đảo, Đặng Văn Bào và nnk (2008) trong “Phát triển mô hình KTST đảo Cù Lao Chàm” đã tổng quan các nghiên cứu về KTST trong và ngoài nước và đề xuất các mô hình KTST phù hợp với đặc trưng tự nhiên, KT-XH các hải đảo. Trên quan điểm chính sách, Nguyễn Lâm Thành (2004) trong đề tài “Nghiên cứu một số mô hình TĐC đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thủy điện” cũng đã đề cập tới các khuyến nghị chính sách, giải pháp trong việc triển khai hoạt động TĐC ở các công trình thủy điện.
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đề cập đến hiệu quả của mô hình KTST đối với hoạt động canh tác nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng miền khác nhau trong các công trình của các tác giả: 9 Trương Quang Hải và nnk (2004) với “Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ KTST phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”; Đặng Trung Thuận và nnk (2000) trong “Nghiên cứu vùng đất ngập nước đầm Trà Ô nhằm khôi phục nguồn lợi thủy sản và PTBV vùng ven đầm” và đề tài KC-01-13 “Mô hình kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình”., trong đó đã đề cập tới vấn đề xác lập các mô hình hệ KTST phục vụ phát triển kinh tế nông thôn như: Mô hình hệ KTST phục vụ phát triển nông thôn bền vững (Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải, 1999), xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp tại xã Kỳ Hợp (Lê Trần Chấn và Phạm Văn Ngạc), xây dựng mô hình tự nhiên – KT-XH theo hướng kinh tế - sinh thái - nhân văn và môi trường cho vùng gò đồi Quảng Bình (Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng). Có thể thấy, trên quan điểm địa lý học, việc nghiên cứu lý thuyết về hệ KTST và mô hình hệ KTST được đẩy mạnh trên bình diện quốc tế và được cập nhật, ứng dụng ở Việt Nam có sự bổ sung về cơ sở lí luận, thực tiễn; quan điểm và phương pháp nghiên cứu. Mặc dù vậy, các mô hình hệ KTST vẫn đòi hỏi được quan tâm nghiên cứu nhằm hoàn chỉnh cả về phương pháp luận; quy trình đánh giá cho lãnh thổ lưu vực hồ thủy điện.2 Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên Khái niệm NLTN được kết hợp bởi hai hợp phần ĐKTN và TNTN trong nghiên cứu Địa lí và Sinh thái, do vậy, việc đánh giá tổng hợp NLTN thực tế là đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN trên cơ sở địa lý sinh thái nhằm các mục đích ứng dụng. Đây là hướng nghiên cứu tổng hợp trong quá trình khai thác các giá trị thực tế của các NLTN nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, ổn định xã hội và đạt hiệu quả kinh tế.
Trên thế giới, vào những năm 60 – 70 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu địa lý và sinh thái thiên về kiểm kê tài nguyên theo từng hợp phần tự nhiên, sau đó là tích hợp trong đánh giá tổng hợp tiềm năng tài nguyên cho từng đơn vị cảnh quan được lựa chọn. Về sau, khi định hướng ứng dụng tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp thì V. Docusaev là người đầu tiên đã chứng minh sự cần thiết phải tính toán tổng hợp các ĐKTN trong hoạt động nông nghiệp ở mọi trình độ [61]. Từ đó, hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan trong nông nghiệp được phát triển rộng khắp 10 trong những năm 80 của thế kỉ XX, bắt đầu từ các công trình nghiên cứu cảnh quan tập trung vào vấn đề đánh giá chất lượng đất một cách tổng hợp như các nghiên cứu của FAO [157, 158] đánh giá đất lâm nghiệp, xây dựng kế hoạch sử dụng đất… đã được ứng dụng vào quy hoạch lãnh thổ ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể.