Nghiên cứu tác động BĐKH và nước biển dâng đến ngập lụt sông Trà Khúc

Luận văn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến ngập lụt sông Trà Khúc, Quảng Ngãi, đề xuất các giải pháp giảm thiểu hiệu quả.

Chuyên ngành

Thủy văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2023

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lưu vực sông Trà Khúc và thách thức ngập lụt

Sông Trà Khúc là một trong những lưu vực sông quan trọng tại tỉnh Quảng Ngãi, với vị trí địa lý chiến l略ngành kinh tế - xã hội của khu vực. Lưu vực này có đặc điểm địa hình đa dạng, từ vùng núi cao đến đồng bằng ven biển, với khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, ngập lụt lưu vực sông Trà Khúc là một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng, gây thiệt hại kinh tế và xã hội đáng kể cho cộng đồng địa phương. Tình hình lũ lụt được hình thành bởi nhiều nhân tố tự nhiên như mưa lớn mùa mưa, địa hình thấp trũng, và đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu hiện nay.

1.1. Đặc điểm địa lý và khí hậu lưu vực Trà Khúc

Lưu vực sông Trà Khúc nằm ở khu vực ven biển Quảng Ngãi với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh của mưa mùa hè - thu, đặc biệt là mưa lớn từ tháng 9 đến tháng 12. Địa hình lưu vực bao gồm các vùng núi cao phía tây, vùng đồng bằng trung gian, và vùng delta ven biển phía đông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ nước mặt và gây ngập lụt vùng đồng bằng.

1.2. Nhân tố hình thành lũ lụt tại lưu vực

Các nhân tố hình thành lũ lụt bao gồm: mưa lớn kéo dài, địa hình thấp trũng, hệ thống sông suối chưa hoàn thiện, sự kết hợp giữa lũ sông và nước biển dâng. Đặc biệt, nước biển dâng do biến đổi khí hậu làm cản trở khả năng thoát nước của hạ lưu, dẫn đến tình trạng ngập lụt kéo dài và diện tích ngập rộng hơn so với các năm trước.

II. Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến ngập lụt

Biến đổi khí hậu được xem là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tình trạng ngập lụt sông Trà Khúc trong thời gian gần đây. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho tỉnh Quảng Ngãi chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình sẽ tăng, lượng mưa sẽ thay đổi không đều, và nước biển dâng với tốc độ từ 0,6 - 1,0 cm/năm. Những thay đổi này làm tăng cường độ các trận lũ, kéo dài thời gian ngập nước, và mở rộng vùng chịu ảnh hưởng. Nước biển dâng đặc biệt tác động lên vùng hạ lưu, cản trở quá trình thoát nước tự nhiên, dẫn đến tình trạng ngập lụt kéo dài ở các vùng đồng bằng ven biển.

2.1. Kịch bản biến đổi khí hậu cho lưu vực Trà Khúc

Kịch bản biến đổi khí hậu cho tỉnh Quảng Ngãi được xây dựng dựa trên các mô hình khí hậu toàn cầu. Các kịch bản này dự báo sự gia tăng nhiệt độ từ 1,2 - 2,4°C vào năm 2100, thay đổi lượng mưa từ -5% đến +15%, và nước biển dâng từ 0,6 - 1,0 cm/năm. Những thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng tần suất và cường độ các trận lũ ngập lụt lưu vực Trà Khúc.

2.2. Nước biển dâng và ảnh hưởng đến hạ lưu

Nước biển dâng là một trong những tác động trực tiếp nhất của biến đổi khí hậu đến ngập lụt vùng hạ lưu. Khi mực nước biển tăng, khả năng thoát nước tự nhiên của hạ lưu sông Trà Khúc giảm đi, dẫn đến tình trạng nước tích tụ, ngập lụt kéo dài. Vùng delta ven biển là nơi chịu tác động mạnh nhất, với nhiều khu vực bị ngập lụt thường xuyên, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và cuộc sống của cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu và mô hình đánh giá ngập lụt

Để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến ngập lụt, nghiên cứu sử dụng các mô hình toán học tiên tiến. Mô hình MIKE FLOOD được áp dụng để mô phỏng quá trình ngập lụt lưu vực Trà Khúc bằng cách kết hợp ba mô hình con chính: mô hình mưa - dòng chảy MIKE NAM, mô hình thủy lực 1 chiều MIKE 11, và mô hình thủy lực 2 chiều MIKE 21. Phương pháp này cho phép mô phỏng chi tiết quá trình hình thành lũ từ vùng thượng lưu đến hạ lưu, tính đến ảnh hưởng của nước biển dâng và các kịch bản biến đổi khí hậu.

3.1. Mô hình MIKE NAM và quá trình mưa dòng chảy

Mô hình MIKE NAM là một mô hình mưa - dòng chảy được phát triển để mô phỏng quá trình biến đổi mưa thành dòng chảy. Mô hình này chia lưu vực thành các tiểu lưu vực và tính toán lượng nước chảy đến sông dựa trên dữ liệu mưa từ các trạm đo. Các thông số của mô hình được hiệu chỉnh dựa trên dữ liệu dòng chảy thực đo, giúp mô hình phản ánh chính xác hành vi của lưu vực.

3.2. Mô hình MIKE 11 MIKE 21 và MIKE FLOOD

Mô hình MIKE 11 mô phỏng dòng chảy trong sông bằng phương trình nước nông 1 chiều, trong khi mô hình MIKE 21 mô phỏng dòng chảy 2 chiều vùng ngập lụt. Mô hình MIKE FLOOD kết hợp cả ba để mô phỏng ngập lụt từ các đỉnh lũ từ sông tràn vào vùng đồng bằng. Điều này cho phép đánh giá chi tiết phạm vi, độ sâu, và thời gian ngập lụt.

IV. Kết quả đánh giá và giải pháp giảm thiểu ngập lụt

Kết quả từ mô phỏng cho thấy ngập lụt lưu vực Trà Khúc sẽ gia tăng đáng kể trong các kịch bản biến đổi khí hậu. Diện tích ngập lụt lớn nhất ứng với trận lũ có xác suất 1% hiện tại là khoảng 5,000 - 7,000 hectare, nhưng theo các kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2050, con số này có thể tăng đến 8,000 - 10,000 hectare. Độ sâu nước ngập cũng tăng từ 0,5 - 1,5 mét lên 1,0 - 2,5 mét ở nhiều vùng. Để giảm thiểu tác động ngập lụt, cần áp dụng giải pháp phi công trình như cải thiện quản lý đất đai, và giải pháp công trình như nâng cao đê, xây dựng hệ thống thoát nước.

4.1. Sự thay đổi diện tích và cường độ ngập lụt theo kịch bản

Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, diện tích ngập lụt sẽ tăng liên tục từ hiện tại đến năm 2100. Thời kỳ 2020 - 2050 sẽ thấy gia tăng 20 - 30%, thời kỳ 2050 - 2080 tăng 35 - 50%. Nước biển dâng đóng vai trò quyết định, làm tăng thêm 10 - 15% diện tích ngập. Những vùng đồng bằng ven biển chịu tác động mạnh nhất với thời gian ngập kéo dài từ 15 - 30 ngày.

4.2. Các giải pháp giảm thiểu ngập lụt hiệu quả

Giải pháp phi công trình bao gồm: cải thiện quản lý sử dụng đất, bảo vệ rừng ngập mặn, hoàn thiện hệ thống dự báo cảnh báo. Giải pháp công trình gồm: nâng cao tiêu chuẩn đê, xây dựng hệ thống thoát nước hiện đại, tạo vùng giảm áp lũ. Cần kết hợp cả hai loại để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậunước biển dâng đến ngập lụt lưu vực Trà Khúc.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG TRÀ KHÚC 1. Tổng quan lưu vực sông Trà Khúc 1. Vị trí địa lý Lưu vực sông Trà Khúc hầu hết nằm trong địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Sông Trà Khúc có một số nhánh nhỏ nằm trên địa phận tỉnh Kon Tum.

Lưu vực sông Trà Khúc nằm sát hướng chung là Tây Nam – Đông Bắc, nằm trong khoảng tọa độ 108007’30” đến 108051’30” kinh độ Đông và 14033’ đến 15015’ vĩ độ Bắc. Vị trí địa lý lưu vực sông Trà Khúc 1. Đặc điểm địa hình Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải Trung Trung Bộ với đặc điểm chung là núi lấn sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía đông đến địa hình miền núi cao ở phía tây. Miền núi chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4 diện tích tự nhiên.

Cấu tạo địa chất Quảng Ngãi gồm các thành tạo đá biến chất, đá magma xâm nhập, phun trào và các thành tạo trầm tích có tuổi từ tiền Cambri đến Đệ tứ. Trên bình diện tự nhiên, địa hình Quảng 5 Ngãi phân dị theo 2 hướng chính: địa hình hướng kinh tuyến và địa hình hướng vĩ tuyến. Giống như các tỉnh ven miền Trung, địa hình tỉnh Quảng Ngãi có độ dốc lớn, được chia thành 4 vùng rõ rệt: Vùng rừng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng, vùng bãi cát ven biển. - Vùng rừng núi: Quảng Ngãi có nhiều rừng núi, khoảng 391.192 ha, chiếm gần 2/3 diện tích đất đai trong tỉnh, tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô sát ra biển, ôm chặt lấy đồng bằng.

Ở phía Tây Bắc và Tây Nam sông Trà Khúc, các khối núi đều có độ cao từ 1.600m như núi Cà Đam (cao 1.100 m), núi Cao Muôn (cao 1.085 m); các vùng khác có độ cao 400 - 600m, còn ở vùng giáp đồng bằng núi chỉ có độ cao khoảng từ 200 - 300 m. - Vùng trung du: Đất đai được cấu tạo tại chỗ, thường bị bào mòn từ cao xuống thấp, có nhiều gò đồi, lắm sỏi đá. Đất ở vùng này thường là đất xám, đất bạc màu, đất đen (diện tích 1.770 ha, chiếm 0,3 % diện tích đất đai toàn tỉnh), dùng để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Diện phân bố chủ yếu ở rìa phía tây, tây bắc, tây nam các huyện đồng bằng Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ.

Bề mặt địa hình nhấp nhô có hướng nghiêng chung về phía đông. - Vùng đồng bằng: Đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp nhưng khá đa dạng về hình thái. Diện tích khoảng 150.678 ha, trong đó chỉ có 13.672 ha được bồi đắp phù sa thường xuyên hàng năm bởi 4 hệ thống sông chính: sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu. Càng đi về phía nam, đồng bằng càng hẹp lại, chỉ còn là một rẻo dọc bờ biển.

Địa hình bề mặt đồng bằng Quảng Ngãi khá bằng phẳng, nghiêng thoải về phía đông, độ cao từ 2 - 30 m. Cấu tạo nên vùng đồng bằng Quảng Ngãi là các thành tạo trầm tích bở rời Đệ tứ, có thành phần thạch học, tuổi khác nhau và có nhiều nguồn gốc (sông, sông - biển, biển - đầm lầy,.) phủ trên bề mặt các đá biến chất, granit, bazan. có tuổi từ Proterozoi đến Neogen - QI. - Vùng bãi cát ven biển: Có diện hẹp với diện tích khoảng 2.

Đất vùng này thích hợp với các loại cây khoai lang, mì, dừa, rừng phi lao có tác dụng làm đai phòng hộ chống cát bay, cát nhảy bồi lấn. Địa hình vùng bãi cát ven biển Quảng Ngãi có đặc điểm chung giống như các khu vực khác ở miền Trung là sự hiện diện của các 6 dải cát cao song song với đường bờ giữ vai trò như những đê cát chắn sóng tự nhiên, bảo vệ phần đất phía sau các cồn cát. Ngoài ra, vùng cát ven biển Quảng Ngãi còn có kiểu địa hình thấp rất đặc trưng, đó là dạng đầm lầy cửa sông bị bồi lấp (liman) và các đầm phá ven biển (lagoon). Bề mặt địa hình nhiều nơi bằng phẳng, trải trên diện rộng (Đức Phổ, Mộ Đức, bắc Bình Sơn) là những nơi có bãi cát điển hình nhất.

Đặc điểm khí hậu Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa, nền nhiệt độ cao và ít biến động. Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình 25 - 26,9 °C. Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, gồm có mùa mưa và mùa khô. Mùa hè nóng, mưa nhiều, nóng nhất vào tháng VI và tháng VII.

Biên độ dao động nhiệt độ trong trong ngày từ 06 - 11 oC. Mùa mưa ngắn chỉ từ 3 - 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm; mùa mưa phù hợp với mùa lũ trên các lưu vực sông và trùng với thời kỳ gió mùa Đông Bắc và bão hoạt động trên biển Đông. Lượng mưa trong mùa mưa ở đây chiếm từ 70% - 80% lượng mưa cả năm. Tháng có lượng mưa lớn nhất thường xảy ra vào tháng 10, 11 có thể đạt từ 600 đến 900 mm/tháng, như tại Giá Vực lượng mưa trung bình tháng 11 đạt 904 mm, tại Ba Tơ đạt 887,5 mm, tại Sơn Giang 924 mm, Lượng mưa trung bình tháng 10 tại An Chỉ 667mm, tại Quảng Ngãi 650 mm.

Trong khi đó mùa khô kéo dài 8 - 9 tháng, từ tháng 01 đến tháng 8 với lượng mưa chỉ chiếm 30% - 35% tổng lượng mưa năm. Thời kỳ ít mưa nhất trong vùng thường tập trung vào 3 tháng từ tháng 02 đến tháng 4, lượng mưa trong 3 tháng chỉ chiếm khoảng 3% - 5% lượng mưa năm. Tháng có lượng mưa nhỏ nhất thường là tháng 02 với lượng mưa chỉ chiếm xấp xỉ 1% - 2% lượng mưa năm. Nắng: Tổng số giờ nắng khoảng 2000 - 2200 giờ/năm.

Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng 5, ở vùng núi đạt 222 giờ/tháng (bình quân 7,2 giờ/ngày); vùng đồng bằng ven biển đạt 242 giờ/tháng đạt (bình quân 8,2 giờ/ngày). Tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 12, ở vùng núi đạt 72 giờ/tháng (bình quân 2,3 giờ/ngày); ở đồng bằng ven biển đạt 90 giờ/tháng (bình quân đạt 2,9 giờ/ngày). Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 85 %. Vào các tháng mùa mưa (từ tháng 9 tới tháng 12) độ ẩm không khí đạt từ 85 % - 90 %, vào các tháng mùa khô 7 chỉ còn đạt trên dưới 80%.

Độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống tới mức 35%. Ở Ba Tơ trị số độ ẩm thấp nhất quan trắc được 34%, ở Quảng Ngãi trị số này là 37%. Gió: Hàng năm Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa gồm hai mùa gió chính trong năm: gió mùa đông và gió mùa hạ. Về mùa hạ từ tháng 5 tới tháng 9, hướng gió thịnh hành nhất là hướng Đông Nam và Tây Nam, về mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau hướng gió thịnh hành nhất là hướng Đông và Đông Bắc.

Tốc độ gió trung bình hàng năm khoảng 1,3 m/s. Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được ở Ba Tơ và Quảng Ngãi là 40 m/s do bão lớn gây ra. Đặc điểm thủy văn *) Đặc điểm mạng lưới sông Tỉnh Quảng Ngãi có 4 sông lớn: sông Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ và sông Trà Câu. Các sông lớn đều phát nguyên từ vùng rừng núi phía Tây, phần thượng nguồn chảy theo hướng Nam - Bắc, khi sông chảy xuống đồng bằng chuyển hướng Tây - Đông rồi đổ ra biển.

- Sông Trà Khúc: sông Trà Khúc bắt nguồn từ vùng rừng núi Kon Plong - Kon Tum ở độ cao trung bình từ 1. Phần thượng nguồn sông chảy theo hướng Nam Bắc qua các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây khi đến Thạch Nham sông chảy theo hướng Tây - Đông đổ ra biển tại cửa Cổ Luỹ. Sông có chiều dài: 135 km, diện tích lưu vực 3240 km2, diện tích tính đến Thạch Nham là 2.840 km2, mật độ lưới sông 0,39 km/km2, độ cao bình quân lưu vực 558 m và độ dốc bình quân lưu vực 18,5%. - Sông Trà Bồng: sông Trà Bồng bắt nguồn từ núi phía tây của huyện Trà Bồng thuộc khu vực xã Trà Hiệp và Trà Lâm, chảy qua huyện Bình Sơn ra biển tại cửa Sa Cần.

Sông dài 62 km. Diện tích toàn lưu vực là 626 km2. Độ cao trung bình lưu vực 196 m, độ dốc trung bình lưu vực 10,5%, mật độ lưới sông 0,43 km/km2. - Sông Vệ: sông Vệ bắt nguồn từ vùng núi phía tây của huyện Ba Tơ thuộc các xã Ba Tô, Ba Giang và Ba Nam.

Sông chảy theo hướng tây nam- đông bắc đổ ra Biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi, sông dài 109 km, diện tích lưu vực khoảng 1.263 km2, bao gồm phần lớn diện tích đất đai của huyện Ba Tơ, Minh Long, Mộ Đức, 8 Nghĩa Hành và một phần nhỏ diện tích của huyện Tư Nghĩa. Độ cao trung bình lưu vực khoảng 170 m, mật độ lưới sông khoảng 0,79 km/km2. - Sông Trà Câu: sông Trà Câu bắt nguồn từ vùng núi Ngang, núi Đá Chát có độ cao 400 m thuộc xã Ba Liên, huyện Ba Tơ. Dòng sông chính chủ yếu chảy theo hướng tây - đông, nhập lưu với sông Thoa tại Sa Bình, Phổ Minh, Đức Phổ- cách cửa Mỹ Á khoảng 2,5 km.

diện tích lưu vực khoảng 485 km2; chiều dài sông khoảng 42 km; chiều dài lưu vực khoảng 19 km và chiều rộng bình quân lưu vực khoảng 14 km. Đặc trưng dòng chảy các sông thuộc tỉnh Quảng Ngãi Flv Xo Yo Qo Mo Sông Vị trí (km2) (mm) (mm) (m3/s) (l/skm2) Biển 3200 3300 2320 238 73,5 Trà Khúc Sơn Giang 2440 3320 2340 181 Biển 1260 2900 1980 79,1 62,8 Sông Vệ An Chỉ 814 3210 2240 57,8 Trà Bồng Biển 697 2900 1980 43,8 62,8 Trà Câu Biển 442 2600 1730 24,2 54,8 *) Chế độ mực nước - Mực nước trung bình năm: Số liệu đo đạc mực nước trung bình nhiều năm tại các trạm thuộc lưu vực sông Trà Khúc được trình bày trong bảng sau: Bảng 1. Đặc trưng mực nước trung bình lưu vực sông Trà Khúc Đơn vị tính: cm Tháng Trạm Năm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Sơn 2863 2767 2809 2776 2805 2819 2834 2797 2813 2927 2994 2946 2846 Giang Trà 222 194 173 161 175 176 169 165 191 271 330 289 210 Khúc - Mực nước cao nhất trong năm: Mực nước cao nhất năm thường xuất hiện vào khoảng tháng X đến tháng XI. Mực nước thấp nhất năm thường xuất hiện vào mùa 9 cạn, nhưng trong tháng IX và X của mùa lũ vẫn có khả năng xuất hiện mực nước thấp nhất năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ