CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẠT CHUẨN ASEAN 1.1 Bối cảnh hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN 1.1 Giới thiệu về Cộng đồng kinh tế ASEAN Tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 12 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng 1 năm 2007 đã khẳng định cam kết của họ tạo ra một Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015, khiến ASEAN trở thành một khu vực mậu dịch tự do hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và kỹ năng lao động, và dòng vốn tự do hơn. Theo AEC, các nước ASEAN sẽ tuân thủ các nguyên tắc của một nền kinh tế mở, hướng ngoại và bao trùm. Thị trường phù hợp với các quy tắc đa phương cũng như tuân thủ các quy tắc tuân thủ hiệu quả và thực hiện cam kết kinh tế. Sự hình thành của AEC, cộng đồng ASEAN sẽ được hưởng lợi từ việc tự do hóa thành công tài khoản vốn trong nước và thị trường tài chính ở từng quốc gia và hội nhập toàn cầu với các tổ chức trên thế giới.
Trong giai đoạn 2007-2015, các quốc gia thành viên ASEAN đã có những bước tiến lớn trong việc cải thiện hiệu quả và sự lành mạnh giữa các tổ chức trong thị trường tài chính. Tuy nhiên, so với các đối tác của các quốc gia trên thế giới, ngân hàng ASEAN và các tổ chức tài chính khác không đủ lớn về quy mô tài sản để cạnh tranh chống lại các đối thủ khác trên thị trường tài chính quốc tế. Thị trường tài chính khác nhau trong ASEAN dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bên ngoài khu vực. Quy định nghiêm ngặt của một số giao dịch tài chính xuyên biên giới cũng đã cản trở hội nhập tài chính toàn ASEAN.
Do đó, ASEAN phải đặt ưu tiên cao việc tăng tốc và tăng cường hội nhập khu vực tài chính để thực hiện cam kết. Vì vậy, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào ngày 31/12/2015 nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, 1 z vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư – kinh doanh từ bên ngoài. Bản chất của AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực mà không phải là một thoả thuận hay hiệp định với các ràng buộc. Mục tiêu của AEC là tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có tay nghề trong khối.
AEC đề ra 04 mục tiêu hoạt động và thiết lập hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan để hoàn thành các mục tiêu: − Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung; − Một khu vực kinh tế cạnh tranh; − Phát triển kinh tế cân bằng; − Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. AEC có 3 hiệp định tương ứng với 3 cam kết quan trọng để xây dựng Cộng đồng Kinh tế: − Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) Hiệp định ATIGA điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong Hiệp định AFTA và các hiệp định, nghị định thư có liên quan. − Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS) Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) được ký năm 1995 và Nghị định thư sửa đổi AFAS ký năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạt động cung cấp 2 z dịch vụ giữa các nước ASEAN. Nội dung của AFAS tương tự Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ của WTO.
Trên cơ sở AFAS, các nước ASEAN đến nay đã hoàn thành 8 Gói cam kết về dịch vụ (cam kết cho 80 phân ngành), và đang đàm phán Gói thứ 9 (cam kết cho 104 phân ngành) và sau đó sẽ đàm phán Gói cuối cùng (cam kết cho 124 phân ngành) nhằm hướng tới mục tiêu tự do hóa dịch vụ vào năm 2015. − Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN 1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN 1998. ACIA bao gồm 4 nội dung chính: Tự do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư. ACIA mở rộng về phạm vi định nghĩa nhà đầu tư (ví dụ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài khối tại một nước ASEAN khi đầu tư sang một nước ASEAN khác được coi là nhà đầu tư ASEAN).
ACIA quy định về các biện pháp/yêu cầu đối với đầu tư bị cấm mà các nước thành viên không được phép sử dụng (ví dụ yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, cân bằng cán cân thanh toán). ACIA còn quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trực tiếp giữa Nhà nước và nhà đầu tư.2 Tiến trình Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia xây dựng AEC với tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Thúc đẩy việc thành lập AEC luôn là một trong những ưu tiên cao nhất của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với ASEAN, Việt Nam quyết tâm và dành nỗ lực cao nhất để triển khai các cam kết, chương trình, sáng kiến hướng tới mục tiêu thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, đặc biệt là các biện pháp ưu tiên nhằm thực hiện Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC.
3 z Mức độ sẵn sàng của Việt Nam trước việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015 cũng được thể hiện thông qua việc thực hiện các cam kết cụ thể của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực với một số kết quả nổi bật như sau: Trong nước: − Về mặt chủ trương: Thuận lợi chính của Việt Nam trong việc xây dựng AEC là sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế khu vực và tích cực tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do nhằm mở cửa thị trường cho các hàng hóa xuất khẩu mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, tận dụng các nguồn lực nhập khẩu có chi phí thấp hơn; đồng thời tạo ra các sức ép từ bên ngoài để đẩy mạnh cải cách trong nước theo hướng minh bạch, cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về AEC năm 2015 nhằm nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về những lợi ích và thách thức của AEC. Phối hợp chặt chẽ hội nhập kinh tế ASEAN với hội nhập kinh tế các khu vực khác để doanh nghiệp, người dân Việt Nam được hưởng lợi tối đa từ tiến trình hội nhập kinh tế cho giai đoạn hội nhập kinh tế sau năm 2015. Đẩy mạnh việc cải cách cơ cấu kinh tế trong nước với tốc độ phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế ASEAN.
Tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành tham gia AEC của Việt Nam thông qua vai trò điều phối của Bộ Công Thương. 4 z − Về mặt thực hiện cam kết, Việt Nam thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng hạn: Ban hành văn bản pháp lý thực hiện cắt giảm thuế. Tăng cường thuận lợi hóa thương mại thông qua triển khai hải quan điện tử, cơ chế một cửa, cải cách thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu nhằm rút ngắn thời gian thông quan và giảm các yêu cầu về các giấy tờ kê khai, qua đó giảm thiểu chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Nỗ lực đơn giản hoá hệ thống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất xứ, giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm.
Ví dụ như việc thực hiện hệ thống eCoSys (hệ thống xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ qua mạng), cấp phép nhập khẩu tự động. Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật này. Sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù hợp với các cam kết trong Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) cũng như GATS. Đối với các ngành dịch vụ ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, e-ASEAN và hàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan.
Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và Thái Lan… 5 z − Về mặt phối hợp với doanh nghiệp: Đàm phán cam kết hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình chuyển đổi phù hợp để doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị trong nội khối ASEAN và ASEAN+1 với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand. Đàm phán thúc đẩy việc mở cửa thị trường ASEAN và các đối tác cho doanh nghiệp của Việt Nam. Phối hợp tích cực với doanh nghiệp giải quyết các biện pháp hạn chế thương mại mới tại các thị trường xuất khẩu, kể cả các biện pháp như hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ. Chủ động vận dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá để đối phó với hàng hóa nhập khẩu ảnh hưởng tiêu cực hoặc cạnh tranh không bình đẳng đối với hàng hóa sản xuất trong nước.
Hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các kênh hợp tác kinh tế, xúc tiến thương mại và đầu tư để tìm hiểu, thâm nhập và phát triển thị trường. Triển khai việc tuyên truyền, quảng bá cho doanh nghiệp và người dân ở các địa phương trong cả nước về các cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế, đặc biệt là về Cộng đồng Kinh tế ASEAN.