chương 1 thì tài liệu nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các nghiên cứu liên quan đến vấn đề RAT như: nhận thức của người dân về RAT, các tiêu chí hay các thuộc tính mà người tiêu dùng tin tưởng khi lựa chọn RAT. Hơn nữa, đề tài còn tham khảo các bài nghiên cứu có ứng dụng các phương pháp đánh giá phù hợp với đề tài của mình từ đó xác định và lựa chọn phương pháp phù hợp nhất đề thực hiện nghiên cứu này. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Nghiên cứu tạo dựng lòng tin tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ của Võ Minh Sang (2016) đã áp dụng các phương pháp như thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tô khẳng định (CFA), phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) dé phân tích dữ liệu của 194 người tiêu dùng được phỏng van trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố bao bì (phân biệt được với rau thường va có bảo chứng, chứng nhận rau an toàn) là yếu tố mà người tiêu dùng đặt lòng tin nhiều nhất khi tiêu dùng rau an toàn, tiếp theo là 2 yếu tố: sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và sự tiện dụng, sản phẩm đã phân loại, đóng gói sẵn thuận tiện trong tiêu dùng.
Nguyễn Thị Minh và cộng sự (2017) đã tiến hành nghiên cứu hành vi của người tiêu đùng và mức độ sẵn lòng chỉ trả cho rau an toàn trong điều kiện thông tin bất đối xứng tại Hà Nội, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thống kê và định lượng, trong đó mô hình hồi quy theo khoảng cũng được áp dụng. Kết quả cho thấy, người tiêu dùng chủ yêu đặt niêm tin vào các yêu tô mang tính cảm nhận như uy tín cửa hàng, có nhãn mác, còn yếu tô chính thống như có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước lại không được tin cậy. Ngoài ra, mức độ sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Thu nhập, mức độ quan tâm và tin tưởng đến thông tin an toàn thực phẩm, nhóm tuổi. Các yếu tố: trình độ giáo dục, giới tính, gia đình có con nhỏ hay không không có dấu hiệu liên quan đến mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng.
Lê Thị Tuyết Thanh (2019) đã thực hiện bài nghiên cứu mang tên: Thông tin bất cân xứng và nhu cầu rau của người tiêu dùng tại TPHCM. Bài nghiên cứu đã áp dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn (Choice Experiment) để đo lường WTP của người tiêu dùng cho các thuộc tính của rau an toàn, các thuộc tính được xem xét gồm: nơi bán, chứng nhận an toàn, cam kết của người bán, bao bì và thông tin trên bao bì và hai loại rau đưa vào đánh giá là rau muống và cà chua. Tiếp theo, tác giả áp dụng mô hình Multinomial Logit (MNL) đề phân tích tác động của đặc điểm người mua đến sự lựa chọn nơi mua rau, và mô hình Random Utility Model (RUM) dé phân tích ảnh hưởng của các thuộc tính từng nơi mua đến sự lựa chọn nơi mua rau, với số lượng 320 người mua rau tại TP. HO CHÍ MINH được khảo sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, người mua sẵn lòng trả thêm 11 nghìn đồng/kg dé mua rau muống có chứng nhận hữu cơ so với rau muống thường, và 22 nghìn đồng/kg cho cà rốt hữu cơ. Cam kết bồi thường của người bán cũng có WTP tương đương với chứng nhận hữu cơ. Bao bì và thông tin nhà sản xuất quan trọng đối với rau muống với WTP tăng thêm là 14 nghìn đồng/kg, nhưng lại không quan trọng đối với cà rốt. Người mua cà rốt không cần bao bì và tem truy xuất, mà cần truy xuất nguồn gốc với WTP cho tem truy xuất là 15 nghìn đồng/kg.
Huy Duc Dang và cộng sự (2019) đã thực hiện nghiên cứu về sự ưa chuộng của người tiêu dùng cho thực phẩm có truy xuất nguồn gốc và có các thuộc tinh an toàn tai thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Nghiên cứu này đã sử dụng rau muống là rau đại diện và áp dụng phương pháp thực nghiệm lựa chọn dựa trên lý thuyết người tiêu dùng Lancastrian và lý thuyết tiện ích ngẫu nhiên dé khơi gợi sở thích của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn có thể truy xuất nguồn gốc và nhận thức về an toàn thực phẩm. Tác động của các thuộc tính liên quan đến an toàn thực phẩm được xác định theo thứ tự giảm dan: Độ tươi, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận va giá cả. Các đặc điểm kinh tế-xã hội cũng được tác giả đưa và mô hình bao gồm: giới tính, tuổi, tình 6 trạng hôn nhân, trình độ học vấn, người mua săm chính, trẻ em dưới 18 tuổi, thu nhập, và nhận thức an toàn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, người tiêu dùng Việt Nam quan tâm nhiều đến hình thức bên ngoài của thực phẩm (độ tươi) dé đánh giá về thực phẩm an toàn. Bên cạnh tầm quan trọng của độ tươi, người tiêu dùng thích sản phẩm có nhãn hơn là sản phẩm không có nhãn. Hơn nữa, tác động của thông tin chỉ tiết về truy xuất nguồn gốc là không đáng ké so với tác động của nhãn. Trần Trung Tín và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu phân tích thị hiếu người tiêu dùng đối với sản phẩm cải thảo nhãn hiệu sinh thái tại thành phố Cần Thơ.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp thực nghiệm lựa chọn (CE) dé xác định thị hiếu của người tiêu dùng thành phố Cần Thơ đối với các thuộc tính của cải thảo nhãn hiệu sinh thái với 4 thuộc tính được đưa ra là: nhãn hiệu, độ tươi, truy xuất nguồn gốc và giá ca, sau đó áp dung mô hình MNL đề ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người tiêu dùng cho từng thuộc tính của cải thảo. Kết quả cho thấy rằng người tiêu dùng sẵn lòng chi trả cho cải thảo có nhãn hiệu “cải thảo hữu cơ” khoảng 15.000 đồng/kg cho “cai thảo xanh”, và khoảng 10.000 đồng/kg cho nhãn hiệu “cải thảo an toàn”. Ngoài ra, người tiêu dùng cũng đồng ý chỉ trả thêm khoảng 14.000 đồng/kg cho cải thảo có truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài Ravi Nandi và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng chỉ trả của người tiêu dùng cho trái cây và rau hữu cơ tại Ân Độ.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) đề ước tính mức WTP của người tiêu dùng với 250 người tiêu dùng khảo sát được thực hiện ở Bangalore. Sau đó, tác gia áp dụng mô hình hồi quy logistic dé tính giá trị của WTP và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Kết quả chỉ ra rằng khoảng 90% người tiêu dùng sẵn sàng chỉ trả dé có được trái cây và rau quả chất lượng tốt hơn và các yếu tố như thu nhập gia đình, quy mô gia đình, giới tính và các biến số khác chang hạn như dư lượng hóa chat trong thực phẩm thông thường, niềm tin vào các nhà bán lẻ và các mối quan tâm về môi trường có ảnh hưởng đáng ké đến WTP của người tiêu dùng. Biao Zhang và cộng sự (2018) đã nghiên cứu về nhận thức của người tiêu dùng, ý định mua và sẵn sàng trả giá cao cho rau an toàn ở Bắc Kinh, Trung Quốc.
Tác giả đã sử dụng phương pháp CVM và phương pháp hồi quy logistic dé ước tính WTP của người tiêu dùng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả, dựa trên 840 mẫu khảo sát hợp lệ. Kết quả cho thấy, hai phần ba người tiêu dùng nhận biết được rau an toàn thông qua nhãn chứng nhận trên bao bì rau. Hơn nữa, 67,6% người tiêu dùng đã sẵn sàng mua rau an toàn và 65,8% sẽ trả giá cao cho rau an toàn. Các yếu tố làm ảnh hưởng đến ý định mua rau an toàn gồm: thu nhập của gia đình, nhận thức về an toàn, quan tâm sức khỏe, bao bì, nhãn mác, độ tươi mới và biên động mức giá.
Kolawole Ogundari và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu về ứng dụng mô hình lựa chọn (CE) dé đánh giá sở thích của người tiêu dùng đối với rau hữu cơ ở Tây Nam Bộ Nigeria. Nghiên cứu được thực hiện với số mẫu là 196 hộ gia đình, và được phân tích bằng mô hình logit đa thức và logit hỗn hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy người trả lời sẵn sàng trả thêm 1,31N dé có dư lượng hóa chất giảm 1% so với rau dén thông thường không giảm dư lượng hóa chat, ho sẵn sàng trả mức phí bảo hiểm 89,98N để có được chứng nhận hữu cơ bởi NAFDAC. và hương vi, những người được hỏi sẵn sảng trả thêm 44,03N cho loại rau dền ngon tự nhiên so với một loại không ngon tự nhiên, họ cũng sẵn sàng trả thêm 75,20N cho độ tươi một phan và thêm 42,26N dé có độ tươi hoàn toàn.
Ngoài ra, nghiên cứu có chỉ ra các yêu tô làm ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân đó là tuôi, giới tính, trình độ học van, thu nhập, số thành viên trong gia đình, nơi sinh sông, nhận thức, chế độ ăn kiêng. Kết luận Các nghiên cứu trên đã cho thấy được mức độ quan tâm của người tiêu dùng về van dé an toàn thực phâm nói chung và RAT nói riêng, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề trên càng được chú trọng. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra được các thuộc tính của RAT mà người tiêu dùng đặt niềm tin vào để sử dụng lựa chọn rau, các thuộc tính gồm: nhãn hiệu, độ tươi, truy xuất nguồn gốc, giá cả, nơi bán, chứng nhận an toàn, cam kết của người bán, bao bì và thông tin trên bao bì. Ngoài ra, các nghiên cứu còn cho thấy các yêu tố về kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến mức sẵn lòng tra của người tiêu dùng như: thu nhập, trình độ học vấn, số thành viên gia đình, nhận thức về an toàn thực phẩm, mức độ quan tâm, tin tưởng thực phẩm an toàn,.
8 Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu, và các phương pháp đã được các tác giả sử dụng rất phù hợp cho đề tài nghiên cứu của mình. Các phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp CVM, CE, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp nhân tố khám phá (CFA), và mô hình hồi logit, probit được sử dụng đề ước tính mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng.