Đánh giá mức độ ô nhiễm của các hợp chất nitơ và sắt trong nước ngầm tại xã bình phú huyện thạch thất thành phố hà nội

Phân tích mức độ ô nhiễm hợp chất nitơ và sắt trong nước ngầm xã Bình Phú, Thạch Thất, Hà Nội. Đánh giá chất lượng nước và tác động.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm nước ngầm

1.2. Sự hình thành nước ngầm

1.3. Đặc điểm của nước ngầm

1.4. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm

1.5. Khái niệm ô nhiễm nước

1.6. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm

1.7. Tác nhân gây ô nhiễm tầng nước ngầm

1.8. Tính chất hóa lý của các hợp chất của nitơ và chu trình chuyển hóa nitơ trong môi trường

1.9. Chu trình chuyển hóa của nitơ trong môi trường

1.10. Hiện trạng ô nhiễm nước ngầm do các hợp chất nitơ

1.11. Sự tồn tại của hợp chất Nitơ trong nước

1.12. Nguồn gốc ô nhiễm do sự có mặt của các hợp chất nitơ trong nước ngầm ở Việt Nam

1.13. Hiện trạng mức độ ô nhiễm các hợp chất nitơ trong nước ngầm ở Việt Nam

1.14. Hiện trạng ô nhiễm amoni, nitrite, nitrate trong nước ngầm

1.15. Hiện trạng chất lượng nước ngầm xã Bình Phú, Thạch Thất, TP.

1.16. Độc tính và sự ảnh hưởng đến sức khỏe con người của amoni, nitrit và nitrat

1.17. Độc tính của amoni, nitrit và nitrat

1.18. Sự ảnh hưởng đến sức khỏe con người của amoni, nitrit và nitrat

1.19. Công dụng của hạt trao đổi ion CG8

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Mục tiêu chung

2.3. Mục tiêu cụ thể

2.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.5. Nội dung nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Kế thừa số liệu

2.8. Điều tra phỏng vấn

2.9. Phương pháp lấy mẫu phân tích

2.10. Phương pháp phân tích

2.11. Phương pháp nội nghiệp.Phương pháp nội suy không gian để xây dựng bản đồ không gian các chất ô nhiễm (phương pháp nghịch đảo khoảng cách có trọng số IDW)

2.12. Thí nghiệm đánh giá hiệu suất xử lý amoni bằng hạt trao đổi ion CG8

2.13. Mục đích của thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.2. Điều kiện kinh tế xã hội

3.3. Thuận lợi và khó khăn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ

4.1. Thực trạng sử dụng nước ngầm tại xã Bình Phú

4.2. Thực trạng chất lượng nước tại xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, TP.

4.3. Kết quả xây dựng đường chuẩn của amoni, nitrit, nitrat và sắt

4.4. Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước ngầm

4.5. Bản đồ vị trí lấy mẫu

4.6. Kết quả mẫu nước ngầm của các hộ gia đình xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội

4.7. Lựa chọn công nghệ xử lý nước ngầm có nhiễm amoni phù hợp với cộng đồng ( tùy vào mức độ ô nhiễm mà chọn phương pháp xử lý cho phù hợp)

4.8. Kết quả thí nghiệm xử lý amoni bằng hạt nhựa trao đổi ion CG8 .Thiết kế hệ thống xử lý nước ngầm quy mô hộ gia đình

4.9. Đề xuất giải pháp xử lý nâng cao chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu .Giải pháp để xử lý sắt trong nước ngầm

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN-TỒN TẠI-KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Báo động thực trạng ô nhiễm Nitơ Sắt nước ngầm Bình Phú

Nước ngầm là nguồn tài nguyên thiết yếu, phục vụ phần lớn nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân tại xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Theo khảo sát, có tới 90% hộ gia đình sử dụng nước ngầm, trong đó 80% là giếng khoan. Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nước này đang ở mức báo động do sự gia tăng của các hợp chất nitơ và sắt. Nghiên cứu khoa học gần đây đã chỉ ra một bức tranh đáng lo ngại về chất lượng nước ngầm Thạch Thất, đặc biệt tại Bình Phú. Việc khai thác và sử dụng trực tiếp nguồn nước chưa qua xử lý triệt để tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng. Các hoạt động nông nghiệp thâm canh, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, cùng với chất thải từ các làng nghề và ô nhiễm môi trường Bình Phú đã và đang thẩm thấu, làm suy thoái nghiêm trọng tầng nước dưới đất. Báo cáo hiện trạng môi trường Thạch Thất đã nhiều lần cảnh báo về vấn đề này, nhấn mạnh sự cần thiết phải có những đánh giá chi tiết và giải pháp can thiệp kịp thời. Việc đánh giá mức độ ô nhiễm của các hợp chất nitơ và sắt trong nước ngầm không chỉ là một đề tài nghiên cứu khoa học mà còn là yêu cầu cấp bách để bảo vệ sức khỏe người dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của nguồn nước ngầm tại xã Bình Phú

Tại xã Bình Phú, nước ngầm đóng vai trò không thể thay thế. Khoảng 80% số hộ sử dụng nước ngầm cho mục đích sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm giặt và 20% cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi. Sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước này đặt ra thách thức lớn khi chất lượng nước suy giảm. Trước đây, giếng khơi là phổ biến, nhưng do mực nước ngầm hạ thấp và ô nhiễm bề mặt, hầu hết các hộ đã chuyển sang giếng khoan sâu hơn. Tuy nhiên, ngay cả ở độ sâu lớn, ô nhiễm nguồn nước dưới đất vẫn là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của hàng nghìn người dân.

1.2. Các dấu hiệu nhận biết nước ngầm nhiễm phèn sắt amoni

Người dân có thể nhận biết sơ bộ tình trạng ô nhiễm qua các dấu hiệu cảm quan. Nước ngầm nhiễm phèn sắt thường có mùi tanh, vị hơi chua, để lâu trong không khí sẽ xuất hiện váng màu vàng nâu và có cặn lắng. Quần áo giặt bằng nước này dễ bị ố vàng. Trong khi đó, nước nhiễm amoni thường không có dấu hiệu rõ ràng về màu sắc hay mùi vị, nhưng khi đun sôi để nấu ăn, thịt luộc có thể bị đỏ như chưa chín. Đây là những cảnh báo ban đầu cho thấy sự hiện diện của các chất ô nhiễm vượt ngưỡng, đòi hỏi phải có các phân tích mẫu nước giếng khoan chuyên sâu để xác định chính xác nồng độ.

II. Hiểm họa từ ô nhiễm Nitơ và Sắt trong nước ngầm Hà Nội

Sự hiện diện của các hợp chất nitơ và sắt trong nước ngầm với nồng độ vượt chuẩn mang lại nhiều hiểm họa khôn lường cho sức khỏe con người. Amoni (NH4+) bản thân nó không quá độc, nhưng khi vào cơ thể hoặc trong quá trình xử lý nước có oxy, nó dễ dàng chuyển hóa thành Nitrit (NO2-) và Nitrat (NO3-). Nitrit là tác nhân cực kỳ nguy hiểm. Theo tài liệu nghiên cứu, Nitrit khi kết hợp với hemoglobin trong máu sẽ tạo thành methemoglobin, làm mất khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu. Tình trạng này đặc biệt nguy hiểm cho trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi, gây ra hội chứng “da xanh” (blue baby syndrome) và có thể dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Ngoài ra, tác hại của nitơ trong nước còn liên quan đến nguy cơ ung thư. Nitrit có thể phản ứng với các axit amin trong dạ dày tạo thành Nitrosamine, một hợp chất gây ung thư đã được chứng minh. Về phần sắt, ảnh hưởng của sắt đến sức khỏe dù không gây ung thư nhưng cũng rất tiêu cực. Sử dụng nước có hàm lượng sắt cao kéo dài gây ra các vấn đề về tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thụ các khoáng chất cần thiết, và có thể tích tụ trong gan, lá lách, gây hại cho các cơ quan này. Đây là nguyên nhân ô nhiễm nước ngầm Hà Nội đang được quan tâm hàng đầu.

2.1. Độc tính và ảnh hưởng sức khỏe của amoni nitrit nitrat

Độc tính của các hợp chất nitơ là một chuỗi chuyển hóa nguy hiểm. Amoni là dạng khởi đầu. Khi được khai thác lên bề mặt, vi sinh vật và oxy trong không khí sẽ chuyển hóa amoni thành nitrit và nitrat. Nitrit là chất độc chính, gây ra hiện tượng thiếu oxy trong máu. Nghiên cứu chỉ rõ: “Khi ăn uống nước có chứa nitrite, cơ thể sẽ hấp thụ nitrite vào máu và chất này sẽ chiếm oxy của hồng cầu làm hemoglobin mất khả năng lấy oxy”. Trẻ em là đối tượng nhạy cảm nhất. Bên cạnh đó, các hợp chất này còn là nguồn gốc ô nhiễm nitrat trong thực phẩm khi dùng nước ô nhiễm để tưới tiêu, tiềm ẩn nguy cơ ung thư dạ dày và các bệnh đường ruột mãn tính.

2.2. So sánh mức độ ô nhiễm với QCVN 09 2015 BTNMT

Để đánh giá mức độ nghiêm trọng, các kết quả phân tích được so sánh trực tiếp với QCVN 09:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất) và QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn cho nước sinh hoạt). Kết quả từ đề tài cho thấy, nhiều mẫu nước tại Bình Phú có nồng độ amoni (NH4+) và Sắt (Fe) vượt xa giới hạn cho phép của cả hai quy chuẩn này. Cụ thể, khảo sát nhanh vào tháng 12/2016 cho thấy 83,33% mẫu nước có hàm lượng amoni vượt ngưỡng. Điều này khẳng định tình trạng ô nhiễm đã ở mức đáng báo động và cần có biện pháp xử lý ngay lập tức để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

III. Phương pháp khảo sát thực địa chất lượng nước tại Bình Phú

Để có được bức tranh toàn diện và chính xác về tình trạng ô nhiễm, một quy trình nghiên cứu bài bản đã được triển khai. Phương pháp luận của đề tài kết hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ điều tra xã hội học đến lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm. Quá trình khảo sát thực địa chất lượng nước được thực hiện qua hai đợt, bao phủ rộng khắp các thôn trong xã Bình Phú. Tổng cộng 64 điểm mẫu đã được thu thập, đảm bảo tính đại diện cho toàn khu vực. Vị trí lấy mẫu được xác định bằng GPS và lập thành bản đồ, giúp trực quan hóa sự phân bố của các chất ô nhiễm. Bên cạnh đó, phương pháp điều tra phỏng vấn các hộ gia đình được sử dụng để thu thập thông tin về hiện trạng sử dụng nước, các biện pháp xử lý tự phát và nhận thức của người dân. Các mẫu nước sau khi thu thập được bảo quản lạnh và vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích các chỉ tiêu quan trọng như nồng độ amoni (NH4+), Nitrit (NO2-), hàm lượng nitrat trong nước ngầm, Sắt (Fe), và tổng chất rắn hòa tan (TDS). Cách tiếp cận đa phương pháp này đảm bảo kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao, làm cơ sở vững chắc cho các đề xuất và giải pháp sau này.

3.1. Quy trình lấy và phân tích mẫu nước giếng khoan

Quy trình lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật. Mẫu được lấy từ các giếng khoan của hộ dân sau khi đã xả nước trong vài phút để đảm bảo mẫu đại diện cho tầng nước khai thác. Chai đựng mẫu là chai nhựa 500ml đã được rửa sạch. Mẫu được dán nhãn, ghi rõ vị trí, thời gian và được bảo quản trong thùng xốp có đá để giữ nhiệt độ ở 4°C trước khi đưa về phòng thí nghiệm. Tại đây, việc phân tích mẫu nước giếng khoan được tiến hành bằng phương pháp so màu quang phổ để xác định nồng độ Amoni, Nitrit, Nitrat và Sắt, đảm bảo độ chính xác cao.

3.2. Xây dựng bản đồ phân bố không gian các chất ô nhiễm

Sau khi có kết quả phân tích từ 64 điểm, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng. Phương pháp nội suy không gian IDW (Nghịch đảo khoảng cách có trọng số) được áp dụng để xây dựng bản đồ phân bố nồng độ các chất ô nhiễm. Bản đồ này trực quan hóa các “điểm nóng” ô nhiễm, cho thấy các khu vực có hàm lượng amoni và sắt cao tập trung ở đâu. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu amoni và sắt được phân bố không đồng đều trên địa bàn xã. Việc lập bản đồ này có ý nghĩa quan trọng trong việc khoanh vùng các khu vực rủi ro cao và ưu tiên triển khai các biện pháp can thiệp.

IV. Kết quả phân tích ô nhiễm Nitơ Sắt trong nước ngầm xã

Kết quả phân tích từ hai đợt lấy mẫu đã xác nhận mức độ ô nhiễm nghiêm trọng của các hợp chất nitơ và sắt. Cụ thể, nồng độ amoni (NH4+) trong nhiều mẫu nước vượt ngưỡng cho phép của QCVN 09:2015/BTNMT (giới hạn là 1,5 mg/l) nhiều lần. Một số mẫu có hàm lượng lên tới 10 mg/l. Tương tự, chỉ số Sắt (Fe) cũng vượt xa mức quy định (5 mg/l), là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nước ngầm nhiễm phèn sắt mà người dân thường gặp. Điều đáng chú ý là, trong khi amoni và sắt ở mức rất cao, các chỉ tiêu như Nitrit (NO2-) và Nitrat (NO3-) lại nằm trong giới hạn cho phép. Điều này được lý giải là do trong môi trường nước ngầm yếm khí (thiếu oxy), quá trình nitrat hóa (chuyển amoni thành nitrit và nitrat) không thể diễn ra. Tuy nhiên, chính điều này lại là một “quả bom nổ chậm”, vì khi nước được bơm lên sử dụng, tiếp xúc với không khí, quá trình chuyển hóa nguy hiểm này sẽ bắt đầu. Các kết quả này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng các biện pháp xử lý nước nhiễm amoni trước khi đưa vào sử dụng cho mục đích sinh hoạt.

4.1. Phân tích nồng độ amoni NH4 và Sắt Fe qua các đợt

Kết quả phân tích mẫu nước ngầm đợt 1 (20/02/2017) và đợt 2 (01/04/2017) cho thấy sự biến động nhưng đều ở mức cao. Hầu hết các mẫu đều có hàm lượng amoni và sắt vượt quy chuẩn cho phép. Sự phân bố không đồng đều cho thấy nguồn ô nhiễm có thể mang tính cục bộ, liên quan đến các hoạt động nông nghiệp, chất thải sinh hoạt hoặc đặc điểm địa chất của từng khu vực. Dữ liệu này là bằng chứng khoa học không thể chối cãi về tình trạng ô nhiễm nguồn nước dưới đất tại Bình Phú.

4.2. Đánh giá hàm lượng nitrat trong nước ngầm và các chỉ số khác

Trái ngược với amoni và sắt, hàm lượng nitrat trong nước ngầm (NO3-) và nitrit (NO2-) được ghi nhận ở mức thấp, đều nằm trong quy định cho phép của QCVN. Các chỉ số khác như tổng chất rắn hòa tan (TDS) và độ dẫn điện cũng không có dấu hiệu bất thường. Điều này phù hợp với lý thuyết về chu trình nitơ trong môi trường yếm khí của tầng nước ngầm. Tuy nhiên, không thể chủ quan vì tiềm năng chuyển hóa thành nitrit khi tiếp xúc với không khí là rất lớn, gây ra những tác hại của nitơ trong nước như đã phân tích.

V. Hướng dẫn xử lý nước ngầm nhiễm Amoni và Sắt hiệu quả

Trước thực trạng ô nhiễm, việc tìm kiếm và áp dụng các giải pháp xử lý là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu đã đề xuất và thử nghiệm một số phương pháp phù hợp với điều kiện kinh tế và quy mô hộ gia đình tại Bình Phú. Đối với nước ngầm nhiễm phèn sắt, giải pháp truyền thống và hiệu quả là làm thoáng (oxy hóa) kết hợp với lắng lọc. Nước được bơm lên, phun thành tia hoặc chảy qua các giàn mưa để tiếp xúc tối đa với không khí. Oxy sẽ oxy hóa Sắt II hòa tan thành Sắt III không tan (kết tủa màu nâu đỏ), sau đó được loại bỏ dễ dàng qua bể lắng và bể lọc cát. Đối với amoni, một trong những biện pháp xử lý nước nhiễm amoni hiệu quả là sử dụng vật liệu trao đổi ion. Đề tài đã tiến hành thí nghiệm đánh giá hiệu suất xử lý amoni bằng hạt nhựa trao đổi ion CG8. Kết quả cho thấy hạt CG8 có khả năng loại bỏ amoni với hiệu suất cao trong những lần sử dụng đầu, nhưng hiệu suất giảm dần sau đó, đòi hỏi phải có quá trình hoàn nguyên (tái sinh) vật liệu định kỳ. Dựa trên các kết quả này, một mô hình bể lọc nước quy mô hộ gia đình đã được thiết kế, kết hợp cả hai quá trình: làm thoáng để khử sắt và lọc qua lớp vật liệu chuyên dụng để khử amoni.

5.1. Thí nghiệm xử lý amoni bằng hạt nhựa trao đổi ion CG8

Thí nghiệm được bố trí để đánh giá khả năng xử lý amoni của hạt nhựa CG8. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu suất xử lý phụ thuộc nhiều vào tốc độ dòng chảy. Cụ thể, với tốc độ dòng chảy chậm (1,42 ml/phút), hiệu suất loại bỏ amoni cao hơn so với tốc độ dòng chảy nhanh (6,6 ml/phút). “Kết quả xử lý nước bằng hạt trao đổi ion CG8 cho thấy khả năng xử lý đạt được hiệu suất cao trong lần xử lý đầu tiên, những lần xử lý tiếp theo thì hiệu suất giảm dần”. Điều này chứng tỏ phương pháp trao đổi ion là một lựa chọn khả thi nhưng cần được vận hành đúng kỹ thuật và bảo trì thường xuyên.

5.2. Đề xuất mô hình bể lọc nước quy mô hộ gia đình

Dựa trên kết quả nghiên cứu, mô hình bể lọc nước hộ gia đình được đề xuất bao gồm các ngăn chính: ngăn làm thoáng, ngăn lắng, và ngăn lọc. Ngăn lọc được cấu tạo nhiều lớp vật liệu gồm sỏi, cát thạch anh, than hoạt tính, và có thể bổ sung lớp vật liệu chuyên dụng như hạt CG8 hoặc Zeolit để tăng cường khả năng loại bỏ amoni. Mô hình này tương đối dễ xây dựng, chi phí vận hành thấp và phù hợp với điều kiện của đa số các hộ gia đình nông thôn, giúp cải thiện đáng kể chất lượng nước ngầm Thạch Thất ở quy mô vi mô.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng trong cuộc sống của cộng đồng. Các nguồn nƣớc đƣợc sử dụng chủ yếu là nƣớc mặt và nƣớc ngầm đã đƣợc xử lý hoặc chƣa qua xử lý. Ngày nay do nhu cầu sử dụng của con ngƣời tăng cao và việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón quá mức đã làm cho môi trƣờng nƣớc nói chung và môi trƣờng nƣớc ngầm nói riêng đang bị ô nhiễm. Chất lƣợng nƣớc là một yếu tố ảnh hƣởng lớn đến xã hội.

Sự gia tăng dân số và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tạo làm cho nhu cầu sử dụng nƣớc càng ngày càng gia tăng trong khi đó thì nguồn tài nguyên nƣớc thì không đổi, dẫn đến nguồn tài nguyên nƣớc bị suy giảm về cả chất lƣợng và số lƣợng. Đối với Việt Nam, là một nƣớc nông nghiệp lên vấn đề nƣớc sạch đang rất đƣợc cộng đồng quan tâm, dành nhiều vốn đầu tƣ để nâng cấp và cải thiện chất lƣợng nƣớc. Amoni không gây độc trực tiếp cho con ngƣời nhƣng sản phẩm chuyển hóa từ amoni là nitrite là yếu tố gây độc cho sức khỏe con ngƣời. Trong nƣớc ngầm, amoni không thể chuyển hóa đƣợc do thiếu oxi.

Khi khai thác lên, vi sinh vật trong nƣớc nhờ oxy trong không khí chuyển amoni thành nitrate và nitrite tích tụ trong nƣớc ăn. Khi ăn uống nƣớc có chứa nitrite, cơ thể sẽ hấp thụ nitrite vào máu và chất này sẽ chiếm oxy của hồng cầu làm hemoglobin mất khả năng lấy oxy, dẫn đến tình trạng thiếu máu, da xanh. Xã Bình Phú, huyện Thạch Thất có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Hình thức sử dụng nƣớc ngầm chủ yếu là giếng khoan, việc sử dụng nguồn nƣớc giếng khoan nhƣ vậy có đảm bảo cho sức khỏe ngƣời dân trong xã hay không thì vẫn chƣa có nghiên cứu cụ thể nào.

Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của nguồn nƣớc đặc biệt là nguồn nƣớc ngầm: “Đánh giá mức độ ô nhiễm của các hợp chất nitơ và sắt trong nước ngầm tại xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá đƣợc mức độ ô nhiễm của các hợp chất nitơ và sắt trong nƣớc ngầm, đề xuất đƣợc biện pháp xử lý các hợp 1 chất nitơ phù hợp cho công đồng dân cƣ tại xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. Từ đó góp phần bảo vệ chất lƣợng nƣớc ngầm cho khu vực nghiên cứu. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Khái niệm nước ngầm Nƣớc dƣới đất hay đôi khi còn đƣợc gọi là nƣớc ngầm, là thuật ngữ chỉ loại nƣớc nằm bên dƣới bề mặt đất trong các không gian rỗng của đất và trong các khe nứt của các thành tạo đá, và các không gian rỗng này có sự liên thông với nhau. Sự hình thành nƣớc ngầm Nƣớc ngầm đƣợc hình thành do nƣớc trên bề mặt ngấm xuống, không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên trên nó nƣớc sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng kiến tạo địa chất mà nó hình thành nên các hình dạng khác nhau, nƣớc tập trung nhiều sẽ bắt đầu di chuyển và liên kết với các khoang túi nƣớc khác nhau dần hình thành các mạch nƣớc ngầm nhỏ. Tuy nhiên việc hình thành nƣớc ngầm phụ thuộc vào lƣợng nƣớc ngấm xuống và phụ thuộc vào lƣợng mƣa, khả năng trữ nƣớc của đất [9]. Đặc điểm của nước ngầm Đặc điểm chung của nƣớc ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành các dòng chảy ngầm theo địa hình.

 Độ sâu Theo độ sâu thì nƣớc ngầm chia là 2 loại  Nƣớc ngầm tầng mặt: không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt, rất dễ bị ô nhiễm;  Nƣớc ngầm tầng sâu: nằm trong lớp đất đá xốp đƣợc ngăn cách bên trên và bên dƣới bởi các lớp không thấm nƣớc. Theo không gian phân bố, một lớp nƣớc ngầm tầng sâu thƣờng có ba vùng chức năng: Vùng thu nhận nƣớc; Vùng chuyển tải nƣớc; Vùng khai thác nƣớc có áp; 3  Thành phần Nƣớc ngầm có thành phần rất phức tạp và đa dạng về cả ion chính các nguyên tố vi lƣợng. Thành phần các ion chính của nƣớc ngầm chủ yếu phụ thuộc vào nguồn gốc chiếm ƣu thế. Mức độ pha trộn khác nhau tạo nên sự đa dạng của các dạng nƣớc ngầm.

Về khí hòa tan và kim loại nặng trong nƣớc thì nƣớc ngầm thƣờng nghèo oxy vào giàu CO2 tự do hơn nƣớc mặt. Ngoài ra trong nƣớc ngầm còn có thể chứa các khí có hàm lƣợng rất nhỏ trong khí quyển nhƣ metan và các khí hiếm nhƣ heli, neon .Các khí này có thể sinh ra từ sự phân hủy yếm khí chất hữu cơ trong đất đi lên theo các khe nứt kiến tạo và hòa tan trong nƣớc [9]. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm 1. Khái niệm ô nhiễm nước Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi các thành phần môi trƣờng nƣớc không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời và sinh vật [1].

Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm  Nhiễm mặn: do khai thác nông nghiệp không hiệu quả và do nuôi trồng thủy sản không đúng cách;  Ô nhiễm do môi trƣờng nƣớc mặt: sinh hoạt và một số hoạt động cần nƣớc ngầm phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản;  Ô nhiễm do tác nhân nhân tạo: nồng độ kim loại nặng vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép mà chủ yếu là do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón. Tác nhân gây ô nhiễm tầng nước ngầm Nƣớc ngầm là nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt chủ yếu đối với các quốc gia trên thế giới. Vì thế, ô nhiễm nƣớc ngầm có ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng sống của con ngƣời. Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái nƣớc ngầm cụ thể là: 4  Tác nhân tự nhiên: nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lƣợng sắt, mangan và một số kim loại khác trong nƣớc;  Tác nhân nhân tạo: nồng độ kim loại nặng cao, hàm lƣợng NO3-, PO43- vƣợt quá quy chuẩn cho phép, ô nhiễm do vi sinh vật.

+ Nƣớc ngầm bị ô nhiễm bởi kim loại nặng Kim loại nặng có trong nguồn nƣớc thải công nghiệp, nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc thải làng nghề, nƣớc rỉ rác đƣợc thải trực tiếp ra nguồn nƣớc mặt. Khi nƣớc mặt bị ô nhiễm kim loại nặng sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào trong nƣớc ngầm, vào đất và các thành phần khác liên quan, có tác động tiệu cực tới môi trƣờng sống của sinh vật và con ngƣời. Kim loại nặng sẽ tích lũy theo chuỗi thức ăn và thâm nhập vào cơ thể ngƣời. Để hạn chế ô nhiễm nƣớc, cần phải tăng cƣờng biện pháp xử lý nƣớc thải công nghiệp.

+ Nƣớc ngầm bị ô nhiễm do vi sinh vật Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trƣờng nƣớc chủ yếu là phân rác, nƣớc thải sinh vật, xác chết sinh vật, nƣớc thải bệnh viện,.Những loại vi khuẩn từ các nguồn này sẽ xâm nhập vào nguồn nƣớc ngầm sau đó theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể ngƣời và tác động tới sức khỏe con ngƣời gây ra các bệnh đƣờng ruột. + Nƣớc ngầm ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, tại một số vùng công nghiệp thâm canh, một lƣợng đáng kể thuốc và phân không đƣợc cây trồng tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nƣớc và các sản phẩm nông nghiệp dƣới dạng dƣ lƣợng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Nhƣng dƣ lƣợng theo nƣớc mƣa và thời gian sẽ ngấm vào mạch nƣớc ngầm gây ô nhiễm mạch nƣớc ngầm.

+ Nƣớc ngầm ô nhiễm do sự có mặt của các hợp chất hữu cơ và sự phân hủy của hợp chất hữu cơ Cacbonhidrat, protein, chất béo thƣờng có mặt trong nƣớc thải công nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt của các hộ gia đình là chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học. Trong nƣớc thải sinh hoạt, có khoảng 60-80% lƣợng chất hữu cơ thuộc 5 loại dễ bị phân huỷ sinh học. Chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học thƣờng ảnh hƣởng có hại đến nguồn lợi thuỷ sản, vì khi bị phân huỷ các chất này sẽ làm giảm oxy hoà tan trong nƣớc, dẫn đến chết tôm cá. Các chất hữu cơ có độc tính cao thƣờng là các chất bền vững, khó bị vi sinh vật phân hủy trong môi trƣờng.

Một số chất có khả năng tồn lƣu lâu dài trong môi trƣờng. Các chất polychlorophenol (PCPs), polychlorobiphenyl (PCBs: polychlorinated biphenyls), các hydrocacbon đa vòng ngƣng tụ (PAHs: polycyclic aromatic hydrocacbons), các hợp chất dị vòng N hoặc O là các hợp chất hữu cơ bền vững. Các chất này thƣờng có trong nƣớc thải công nghiệp, nƣớc chảy tràn từ đồng ruộng (có chứa nhiều thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kích thích sinh trƣởng). Các hợp chất này thƣờng là các tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm, ngay cả khi có mặt với nồng độ rất nhỏ trong môi trƣờng đặc biệt là môi trƣờng nƣớc [16].

Tính chất hóa lý của các hợp chất của nitơ và chu trình chuyển hóa nitơ trong môi trƣờng 1. Chu trình chuyển hóa của nitơ trong môi trường Hình 1. Chu trình chuyển hóa của nitơ trong môi trƣờng 6 Hợp chất nitơ vô cơ đơn giản và đầu tiên là nitơ tự do trong không khí. Nitơ vô cơ này chuyển hóa thành nitơ của vi sinh vật, thực vật.

Trong cơ thể sinh vật, nitơ tồn tại chủ yếu dƣới dạng các hợp chất đạm hữu cơ nhƣ protein, acid amin. Khi cơ thể sinh vật chết đi lƣợng nitơ hữu cơ này tồn tại trong đất. Dƣới tác dụng của nhóm vi sinh vật hoại sinh thực hiện quá trình amon hóa phân giải thành các acid amin. Các acid amin này đƣợc một nhóm vi sinh vật phân giải thành amoniac.

Amoniac tiếp tục đƣợc chuyển hóa các hợp chất của nitrite, nitrate nhờ nhóm vi sinh vật nitrate hóa. Dƣới dạng nitrate đƣợc chuyển hóa thành nitơ phân tử nhờ quá trình phản nitrate hóa trả lại nitơ tự do cho khí quyển. Nhƣ vậy, vòng tuần hoàn nitơ đƣợc khép kín. Trong hầu hết các giai đoạn chuyển hóa của vòng tuần hoàn đều có sự tham gia của các vi sinh vật khác nhau.

Nếu sự hoạt động của nhóm nào đó ngừng lại, toàn bộ sự chuyển hóa chuyển hóa của vòng tuần hoàn sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng [17]. Các quá trình chuyển hóa [17] a. Quá trình amon hóa Quá trình amon hóa là quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ nhƣ acid amin, protein thành nitơ vô cơ, CO2 và nƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ