Đặt vấn đề Rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, rừng có vai trò quan trọng trong đời sống của con người cũng như sinh vật trên Trái đất. Rừng không chỉ mang lại cho con người những lợi ích về mặt kinh tế mà còn mang lại những lợi ích về mặt môi trường, du lịch sinh thái, văn hóa, xã hội… Đã từ lâu, rừng được xem là “lá phổi xanh” của nhân loại, là nơi bảo tồn các nguồn gen động thực vật quý hiếm… Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới có diện tích rừng và đất rừng rất lớn, chiếm 2/3 diện tích đất đai của cả nước. Sự giàu có của rừng với rất nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nguồn tài nguyên rừng đa dạng vào bậc nhất thế giới. Tuy nhiên cho đến nay sự thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lượng rừng của nước ta đã và đang là hiểm họa đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của con người.
Theo số liệu thống kê năm 1943 diện tích rừng nước ta là 14.3 triệu ha (tương đương với độ che phủ là 43%), đến năm 1999 diện tích rừng còn lại là 10.9 triệu ha (tương đương với độ che phủ là 33.2%), đến năm 2010 diện tích rừng nước ta là 13.075 ha (tương đương với độ che phủ là 39. Theo tài liệu của Bộ NN và PTNT, tính đến năm 2000 trong tổng số 19 triệu ha đất sản xuất lâm nghiệp chỉ có 9.3 triệu ha đất có rừng, trữ lượng gỗ bình quân rất thấp, khoảng 63m3 gỗ/ha, chủ yếu là gỗ nhóm V đến nhóm VIII, những loại gỗ nhóm I, II rất ít hoặc hiếm. Nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng cả về số lượng cũng như chất lượng có rất nhiều song chủ yếu là sự can thiệp vô ý thức của con người như chặt phá rừng làm nương rẫy của đồng bào các dân tộc thiểu số, nạn khai thác rừng, săn bắn chim thú rừng bừa bãi, kinh doanh rừng không hợp lý. Một nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng đó là e 2 công tác quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, nạn cháy rừng vẫn liên tiếp xảy ra, hàng năm làm thiêu cháy hàng nghìn ha rừng, sâu bệnh hại thường xuyên gây dịch lớn ở nhiều nơi, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng mà chúng ta chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu.
Do vậy trong định hướng phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 một mục tiêu quan trọng bậc nhất là thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16.24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, phấn đấu đưa độ che phủ rừng của toàn quốc lên 47% năm 2020 (Bộ NN và PTNT, 2005) [2]. Để thực hiện được chiến lược quan trọng này công tác trồng rừng phải được đặc biệt quan tâm. Nhất là việc lựa chọn được loài cây trồng phù hợp với mục đích kinh doanh và đúng với yêu cầu phòng hộ là một vấn đề khó khăn. Tuy nhiên cho đến nay về cơ bản chúng ta đã xác định được loài cây trồng chủ yếu và có những nghiên cứu cần thiết đảm bảo cơ sở cho việc xây dựng quy trình, quy phạm trồng rừng.
Trong các chương trình, dự án trồng rừng ở nước ta, Bồ đề được lựa chọn trồng ở các tỉnh vùng núi nước ta như Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ… Bồ đề được trồng nhiều như vậy là do Bồ đề là cây trồng đặc hữu có thể phát triển tốt trên hầu hết các đất khác nhau về đá mẹ, trừ đất đá vôi. Bồ đề là loài mọc nhanh, chu kì khai thác ngắn 10 - 12 năm, cho gỗ làm nguyên liệu giấy, ván ép, nhựa Bồ đề dùng làm nguyên liệu trong y học, chế biến định hương trong nghề làm nước hoa, chế biến vecni, một số loài sơn đặc biệt… ngoài ra Bồ đề còn có ý nghĩa tâm linh được trồng trong chùa chiền. Từ những giá trị đó mà Bồ đề được trồng trên diện tích rộng và chủ yếu trồng rừng thuần loài. Quá trình trồng rừng thuần loài đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện nhiều quần thể sâu hại nguy hiểm đặc biệt là Sâu xanh ăn lá Bồ đề (Pentonia sp) làm cho Bồ đề sinh trưởng phát triển chậm và có thể bị chết gây ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh rừng.
Gần đây trên địa bàn xã Nghĩa e 3 Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai nhiều khu rừng trồng Bồ đề xuất hiện loài Sâu xanh ăn lá Bồ đề gây nên những thiệt hại cho rừng ở địa phương. Xuất phát từ thực tế trên và mong muốn đóng góp một phần công sức của bản thân để giải quyết được phần nào vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mức độ gây hại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ Sâu xanh ăn lá Bồ đề (Pentonia sp) tại xã Nghĩa Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai”. Mục tiêu đề tài - Đánh giá mức độ hại lá Bồ đề của loài Sâu xanh ăn lá Bồ đề tại rừng trồng xã Nghĩa Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai. - Đề xuất một số biện pháp phòng trừ loài Sâu xanh ăn lá Bồ đề góp phần bảo vệ rừng trồng Bồ đề xã Nghĩa Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng vào thực tiễn sản xuất. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Nắm vững được các phương pháp điều tra sâu hại cây lâm nghiệp ở rừng trồng.
- Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về loài Sâu xanh ăn lá Bồ đề tại địa bàn nghiên cứu cũng như các địa bàn khác của tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang… e 4 1. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở giúp xã Nghĩa Đô có biện pháp ngăn chặn Sâu xanh đang gây hại tại các rừng Bồ đề, góp phần tăng năng suất và chất lượng rừng trồng. - Áp dụng các biện pháp đề xuất có hiệu quả của đề tài vào việc phòng trừ loài Sâu xanh ăn lá Bồ đề trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và các vùng lân cận nói chung giúp rừng sinh trưởng phát triển tốt hơn, đáp ứng được mục đích kinh doanh rừng.
e 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu tài liệu Côn trùng là lớp phong phú nhất trong giới động vật, trong hơn 1,2 triệu loài động vật mà con người đã biết thì côn trùng chiếm hơn 1 triệu loài và chiếm 1/2 tổng số các loài sinh vật cư trú trên hành tinh chúng ta. Côn trùng phân bố khắp nơi trên Trái đất từ xích đạo đến nam cực, bắc cực hay trên những hòn đảo xa xôi hẻo lánh hoặc trên những đỉnh núi cao 5000m, ta cũng tìm thấy côn trùng trong những tảng băng lạnh, trong các mạch nước nóng, trong đất, trong các rễ cây, trong quả, trong thân và lá, nhiều loài côn trùng còn kí sinh trên cơ thể các loài sinh vật khác (Phạm Ngọc Anh, 1967) [1]. Côn trùng là những động vật không xương sống thuộc ngành chân đốt (Athropoda) (Đặng Kim Tuyến và cs, 2008) [20].
Là lớp động vật hết sức phong phú, đa dạng về thành phần loài đồng thời vô cùng đông đúc về số lượng. Chúng có mặt ở khắp mọi nơi và can dự vào mọi quá trình sống trên hành tinh của chúng ta, trong đó có đời sống con người. Trong sản xuất Lâm nghiệp thường gặp rất nhiều loại sâu hại, chúng rất đa dạng và phương thức phá hoại cũng rất khác nhau. Nhiều loài côn trùng là có lợi như ăn thịt hoặc ký sinh trên các loại sâu hại nhưng cũng có một số đáng kể thường xuyên gây ra những tác hại to lớn cho sản xuất nông lâm nghiệp và sức khỏe con người.
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc, hằng năm nông nghiệp của toàn thế giới bị thất thu do sâu bệnh và cỏ dại lên đến 30 triệu tấn ngũ cốc. Số lượng lương thực đó đủ nuôi sống 150 triệu người (Đặng Kim Tuyến và cs, 2008) [20]. Trong tự nhiên không một lớp động vật nào có thể sánh với lớp côn trùng về mức độ phong phú đến kỳ lạ về thành phần loài. Các nhà khoa học e 6 ước tính lớp côn trùng có tới 8-10 triệu loài, chiếm tới 78% số loài của toàn bộ giới động vật được biết đến trên toàn Trái đất (Nguyễn Viết Tùng, 2006) [18].
Sâu hại ở rừng trồng chủ yếu là các loài sâu ăn lá, hàng năm thường phát dịch ăn trụi hàng nghìn ha rừng gây ảnh hưởng rất lớn sinh trưởng phát triển của rừng (Trần Công Loanh và cs, 1997) [12]. Sâu hại cây trồng Lâm nghiệp có rất nhiều loài song không phải loài nào cũng có mức độ gây hại giống nhau. Có những loài có tính đa thực như: Bọ hung, Sâu xám, Mối mọt,… chúng gây hại nhưng ít khi phát dịch. Ngược lại có nhiều loài có tính ăn hẹp, chúng chỉ ăn một số loài cây trồng nhất định, gần nhau về phân loài thực vật, những loài này rất dễ phát thành dịch và gây hại lớn đối với sản xuất nông lâm nghiệp.
Khi các yếu tố sinh thái thuận lợi, đặc biệt là thức ăn, nhiệt độ và ẩm độ nơi loài sâu hại sống sẽ làm cho chúng sinh trưởng phát triển rất nhanh. Trên thực tế các trận dịch xảy ra là do sự phát sinh hàng loạt của loài. Tuy nhiên các trận dịch lại không xảy ra một cách đột ngột. Sự phát sinh hàng loạt chính là sự tăng số lượng loài sâu.
Nguyên nhân của nó, ngoài các yếu tố ngoại cảnh còn có các yếu tố bên trong, chủ yếu là quá trình phát triển của loài như khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắn, sức sinh trưởng nhanh,… Khí hậu Việt Nam đem đến nhiều thuận lợi cho phát triển ngành Lâm nghiệp, tuy nhiên cũng có không ít khó khăn. Những thuận lợi để cây rừng sinh trưởng và phát triển lại cũng là những thuận lợi để phát sinh, phát triển và lan tràn bệnh hại thực vật. Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm cổ rễ… phát sinh ở khắp nơi gây thiệt hại đáng kể cho ngành Lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh va Cs, 1996) [16].