Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá của thị trường lao động đối với chất lượng đào tạo ngành thư viện thông tin. Chương 2: Mức độ đáp ứng thị trường lao động của sinh viên ngành thư viện thông tin Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao mức độ đáp ứng thị trường lao động của sinh viên ngành ngành thư viện thông tin, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG- HCM. Cơ sở lý luận về đánh giá của thị trường lao động đối với chất lượng đào tạo ngành thư viện-thông tin 1.
Khái niệm về TTLĐ Có rất nhiều khái niệm về TTLĐ, mỗi khái niệm có một cách tiếp cận khác nhau. Chính khái niệm “thị trường lao động” cũng có nhiều cách biểu đạt khác nhau như: thị trường sức lao động, thị trường dân số tích cực kinh tế, thị trường nguồn nhân lực… Trong phạm vi đề tài này, tác giả không đề cập đến tính phức tạp và đa dạng của thuật ngữ biểu đạt khái niệm “TTLĐ” mà quan tâm nhiều hơn đến nội dung cụ thể của TTLĐ và những quan hệ của nó. Theo Từ điển từ chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế (ILO Thesaurus 2005) thì “TTLĐ là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công [47]. Ở khái niệm này, Tổ chức lao động quốc tế (ILO: International Labour Organization) nhấn mạnh khía cạnh các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia nêu khái niệm “TTLĐ là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là NLĐ tự do và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc. thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng” [45]. Nguyễn Viết Sự, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục, thì khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ nhất là: “TTLĐ là nơi diễn ra sự trao đổi theo nguyên tắc thỏa thuận về các quan hệ lao động (việc làm, tiền công và các điều kiện làm việc khác) giữa NLĐ (phía cung lao động) và NSDLĐ (phía cầu lao động) dưới hình thức hợp đồng lao động” [37, tr.
Theo Nguyễn Minh Đường (dẫn theo Nguyễn Ánh Hồng [6, tr.18]): “TTLĐ là nơi gặp gỡ, giao lưu giữa cung và cầu về lao động, giữa những người tìm việc, 9 có nhu cầu về việc làm và những người hoặc tổ chức đang cần tuyển dụng lao động”. Tác giả Nguyễn Minh Đường nhấn mạnh đến những yêu cầu trên TTLĐ khi phân tích thêm: Trong quá trình giao lưu, thương lượng này, NLĐ có nhận việc hay không và NSDLĐ có tuyển dụng lao động hay không còn tùy thuộc vào việc đôi bên có thỏa mãn yêu cầu của mình hay không. Trong mối quan hệ đó, yêu cầu cơ bản của NSDLĐ là phẩm chất của NLĐ, còn yêu cầu cơ bản của NLĐ là tiền lương hoặc tiền công và điều kiện làm việc của họ. Nguyễn Ánh Hồng và nhóm nghiên cứu thì: “TTLĐ theo nghĩa chung nhất là một hệ thống trao đổi giữa người đã có việc làm hoặc tìm kiếm việc làm (cung lao động) và những NSDLĐ hoặc đang tìm kiếm lao động (cầu lao động) [6, tr.
Tóm lại, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi một khái niệm về TTLĐ đều có sự phù hợp nhất định. Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào thì các khái niệm trên đều nêu được những yếu tố cơ bản nhất của TTLĐ dựa trên mối quan hệ thỏa thuận, đó là: - Cung lao động: người đã có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm; - Cầu lao động: NSDLĐ hoặc đang tìm kiếm lao động. Cung Cầu Trao đổi lao động lao động Hình 1. Minh họa các yếu tố cơ bản của TTLĐ 10 Giống như những thị trường khác, TTLĐ cũng hoạt động theo những quy luật khách quan của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu…; quan hệ giữa hai bên trong TTLĐ (NLĐ và NSDLĐ) là mối quan hệ thỏa thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện về quyền và lợi ích.
Trong nền kinh tế hiện đại, TTLĐ hình thành, phát triển và hoạt động rất đa dạng, phức tạp. Những đặc trưng cơ bản của TTLĐ là tính thống nhất, quan hệ thỏa thuận, tính cạnh tranh và tính linh hoạt và thích ứng. Vai trò của TTLĐ Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, TTLĐ hình thành và phát triển là tất yếu khách quan và có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. TTLĐ là một thị trường không thể thiếu trong hệ thống đồng bộ của các loại thị trường (khoa học và công nghệ, hàng hóa, tài chính, bất động sản, tiền tệ,.
Chính vì thế, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải tạo điều kiện môi trường cũng như hoàn thiện thể chế theo TTLĐ, đây là một trong những nội dung quan trọng và cơ bản nhất. TTLĐ tham gia vào quá trình điều chỉnh, phân bố và sử dụng hiệu quả các nguồn lực mà đặc biệt là nguồn nhân lực theo quy luật cung – cầu và giá cả lao động, hạn chế được những lãng phí và tiêu cực. Thông qua TTLĐ, hệ thống cầu lao động (công ty, xí nghiệp, cơ quan, …) có cơ hội để trang bị đồng bộ sức lao động cần thiết theo khối lượng đặt ra và chất lượng đòi hỏi. TTLĐ đảm bảo cho tỷ lệ lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, các ngành nghề và theo khu vực dân cư được thay đổi theo cơ cấu ngày càng hợp lý, linh hoạt, thích ứng và phù hợp với cấu trúc mới của nền kinh tế.
TTLĐ đóng vai trò to lớn trong việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và hình thành nên các thang giá trị sức lao động. Chính vì vậy, nó tác động lớn đến sự phát triển con người, giải phóng và phát huy triệt để tiềm năng, tài năng của vốn con người. TTLĐ góp phần xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, hợp tác 11 giữa NLĐ và NSDLĐ, đảm bảo quyền và lợi ích của hai bên, lợi ích của nhà nước và của cộng đồng. Trong điều kiện của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ hệ thống tổ chức lao động tập trung sang thị trường nên cần một thời gian dài để tạo lập những bản tính của nền kinh tế thị trường.
Do đó, việc hình thành TTLĐ ở nước ta không thể diễn ra trong một sớm một chiều. TTLĐ Việt Nam mới chỉ đạt được những bước đi ban đầu trên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính trước đây [30]. Mối quan hệ giữa đào tạo và TTLĐ 1. Tác động của TTLĐ đến đào tạo Mối quan hệ giữa đào tạo với TTLĐ là mối quan hệ biện chứng giữa một bên là người cung ứng dịch vụ và một bên là người sử dụng sản phẩm.
Các cơ sở đào tạo là nơi đào tạo nhân lực, chuẩn bị nguồn nhân lực cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng để phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học là nơi sử dụng các sản phẩm của các cơ sở đào tạo, đó là những nhân lực đã qua đào tạo. Sản xuất không phát triển thì các cơ sở đào tạo nói chung sẽ không còn tồn tại và ngược lại, nếu các cơ sở đào tạo không phát triển thì các ngành nghề trong xã hội cũng bị đình trệ. Mối quan hệ hai chiều này còn thể hiện ở chỗ các cơ sở đào tạo là kênh thông tin quan trọng để quảng bá cho thương hiệu của doanh nghiệp, ngược lại, sự phát triển của doanh nghiệp có thể khẳng định vị thế cho một cơ sở đào tạo trên TTLĐ.
TTLĐ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo Trong quá trình đào tạo, nhờ nắm bắt được nhu cầu đào tạo từ TTLĐ mà các cơ sở đào tạo có kế hoạch tổ chức đào tạo, xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng nội dung chương trình đào tạo phù hợp. Đồng thời, người học khi nắm rõ yêu cầu 12 của thực tiễn TTLĐ, định hình được nội dung công việc của mình sau khi tốt nghiệp sẽ có động cơ học tập tốt, yên tâm và có hướng phấn đấu hơn. Sau đào tạo, nhờ nắm bắt được nhu cầu TTLĐ, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm và làm đúng ngành sẽ tăng lên, mức độ phù hợp giữa kiến thức, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp và phẩm chất với yêu cầu của thị trường làm tăng khả năng thích ứng của sinh viên tốt nghiệp, tăng cơ hội tìm việc và rút ngắn được thời gian thích ứng. TTLĐ góp phần tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng Sự tác động này thể hiện ở việc tham gia ngày càng rộng rãi của các đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học vào việc xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo, hỗ trợ hoặc chia sẻ cơ sở vật chất và tài chính, hỗ trợ các điều kiện thực hành, thực tập rút ngắn dần khoảng cách giữa lý luận với thực tiễn.
Đồng thời, nhờ mối quan hệ chặt chẽ với TTLĐ, các cơ sở giáo dục và đào tạo có điều kiện để cải tiến tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng đầu ra cũng như có những đổi mới nhất định về công tác quản lý đào tạo. Sự gắn kết với TTLĐ cũng giúp các cơ sở đào tạo nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của cơ sở sử dụng lao động trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo đối với sự tồn tại và phát triển của cơ sở đào tạo. Trong những gần đây, việc công bố chuẩn đầu ra chương trình đào tạo ngành TVTT của Trường ĐHKHXH&NV cùng với sự xuất hiện nhiều hơn các thông tin tuyển dụng công khai và phổ biến rộng rãi từ các cơ quan thông tin – thư viện thể hiện rõ nhu cầu gắn kết giữa đào tạo và TTLĐ. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa làm đúng chuyên môn đào tạo, trong khi nhiều cơ quan thông tin – thư viện lại khó khăn trong việc tuyển dụng người phù hợp với yêu cầu.
Điều này cũng thể hiện một mối quan hệ lỏng lẻo giữa đào tạo với TTLĐ ngành TVTT.