Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (27 trang) Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu (15 trang) Chương 3: Thực trạng về mức độ đáp ứng với Chuẩn nghề nghiệp GVTH của Cử nhân sư phạm do Trường ĐHAG đào tạo (39 trang) Kết luận và đề xuất (7 trang) Phụ lục (67 trang) Formatted: Vietnamese (Vietnam) -4- Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhóm công trình nghiên cứu về chất lƣợng giáo viên Bất cứ một nghề nào mà không có NLNN thì người hành nghề cũng không thể hoàn thành tốt công việc của mình. Theo đó, NL sư phạm là yêu cầu quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của nghề dạy học.
Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này: tác giả Trần Bá Hoành (2001) trong bài “Chất lượng giáo viên” [29] đưa ra các cách tiếp cận chất lượng GV dựa trên nhiều góc độ khác nhau như đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng người GV trước yêu cầu đổi mới GD, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng đội ngũ GV; đồng thời tác giả cũng giới thiệu các thành tố tạo nên CLGV bao gồm phẩm chất và NL người GV; và các nhân tố ảnh hưởng tới CLGV. Các tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền và Trần Việt Cường (2009) trong bài “NL sư phạm của người GV” [35]– đã hệ thống các NL sư phạm cơ bản của người GV thành 08 nhóm NL chính (tri thức về môn học và khoa học giáo dục, NL chẩn đoán, NL lập kế hoạch, NL triển khai kế hoạch giáo dục và dạy học, NL kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, NL giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học, NL tự bồi dưỡng phát triển nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, NL hợp tác). Trong các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) với bài “Nghề và nghiệp của người GV” [44]–, Nguyễn Hữu Châu (2008) trong bài “Chất lượng giáo dục – những vấn đề lí luận và thực tiễn” [16], hay Trần Đình Tuấn (2006) với bài “Chất lượng đội ngũ nhà giáo nhân tố quyết định CLGD đại học” [57], Trịnh Hồng Hà (2004) với nghiên cứu “CLGD và đội ngũ GV” [23], Nguyễn Thị Mùi (2010) trong bài “Một số vấn đề về NL sư phạm của GV THPT” [47], Phạm Hồng Quang (2009) trong bài “Giải pháp đào tạo GV theo định hướng NL” [53] đã đưa ra vai trò người GV hiện nay đã có những sự thay đổi để phù hợp với -5- các chức năng của người GV rộng hơn, đồng thời chứng minh được NL GV chính là yếu tố cơ bản quyết định CLGD, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đào tạo bồi dưỡng GV thông qua đổi mới chương trình đào tạo GV, tăng cường yếu tố cạnh tranh chất lượng GV, đào tạo GV là trách nhiệm của Nhà nước và phải bằng chính sách đầu tư nguồn vốn chủ yếu từ nhà nước, tổ chức các hội nghị giữa các trường sư phạm với các địa phương. Tác giả Nguyễn Thanh Hoàn (2003) trong bài “Vài nét về mô hình người GV” [26] tác giả đưa ra khái niệm người GV, những đặc điểm chính để phân biệt phẩm chất người GV, đồng thời tác giả đưa ra một số đề nghị để cải thiện công tác và hiệu quả công tác của người GV.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) với bài “GV chất lượng cao trong thời đại hiện nay” [45] cho rằng GV chất lượng cao là những GV có trình độ học thuật vững vàng, đủ sâu sắc và có tính phát triển thuộc chuyên ngành khoa học – kỹ thuật – công nghệ được đào tạo, có kiến thức và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có NL sáng tạo trong hoạt động thực tiễn khoa học và giáo dục, có khả năng hành nghề sư phạm đạt kết quả hay có tính hiệu nghiệm cao, có thể đảm đương được các vai trò mới trong một môi trường sư phạm đang biến đổi. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung có thể rút ra là: bức tranh tổng thể về cấu trúc NL sư phạm của người GV và những yêu cầu đối với người GV. Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác cũng có nội dung xoay quanh vấn đề CLGV nhưng nhìn từ nhiều góc độ khác nhau như: tác giả Trần Quốc Thành (2009) trong bài “Đánh giá lao động sư phạm của GV phổ thông hiện nay” [55] đưa ra các nhận định và minh chứng nhằm chứng minh lao động thực thụ của GV phổ thông dựa trên đặc điểm lao động người GV đồng thời đưa ra đánh giá lao động sư phạm của GV phổ thông là lao động nặng. Cùng với cách định hướng và đánh giá về công việc của GV có nghiên cứu Phan Thanh Long (2009) về “Định lượng và đánh giá lao động GV phổ thông” [42] tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên tắc định lượng công việc của GV, thực trạng lao động của GV phổ thông.
Phạm Minh Hạc (2004) với bài “Phương pháp tiếp cận nhân văn: Nhân cách người dạy – nhân cách -6- người học đối với vấn đề CLGV” [24], Lê Khánh Tuấn (2009) trong nghiên cứu “Tiếp cận đổi mới phương pháp đào tạo GV THPT từ phía người sử dụng” [58] –, Lê Thị Thanh Hoàng (2008) trong bài “Vai trò thông tin ngược trong quản lí quá trình đào tạo GV” ––[27] các tác giả đã nghiên cứu và đưa ra nhận định các thông tin phản hồi từ phía người được đào tạo và nhà tuyển dụng cũng là cơ sở xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Hay Đặng Quốc Hòa trong bài “Góp ý về GV sư phạm” [25] đây là bài tham luận của một phụ huynh học sinh đóng góp về các chuẩn mực của các GV trong các trường phổ thông vốn là sản phẩm của các trường sư phạm. Bài viết nhấn mạnh các mong muốn của xã hội và gia đình về các chuẩn mực mà GV cần có như kiến thức chuyên môn, đạo đức mẫu mực, lòng khoan dung và phương pháp giảng dạy,. Đây là một trong các chủ đề được các nhà nghiên cứu giáo dục đưa ra, với mục tiêu đề cập đến khâu then chốt: nhân cách người GV và chất lượng đội ngũ GV trong bối cảnh hội nhập.
Đồng thời còn có nghiên cứu của Sái Công Hồng (2008) với đề tài “Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy của GV THCS áp dụng thí điểm tại thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc” [30]. Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy của GV THCS và tiến hành đánh giá thử nghiệm để làm cơ sở cho việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ GV, đồng thời tạo cơ sở để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy GV THPT. Riêng ở tỉnh An Giang tính đến thời điểm chúng tôi nghiên cứu có 02 đề tài cấp Tỉnh đề cập đến vấn đề này: Thứ nhất, Vũ Thị Phương Anh (2007) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT tỉnh An Giang” [1]. Nội dung chính của đề tài là thu thập thông tin về thực trạng toàn cảnh dạy và học bậc THPT để xây dựng và thử nghiệm chương trình bồi dưỡng nâng cao NL đội ngũ GV THPT tỉnh An Giang, đồng thời theo dõi, lấy ý kiến chuyên gia và đánh giá mức độ hiệu quả của biện pháp thử nghiệm và đề xuất các giải pháp.
Thứ hai, La Hồng Huy (2007) với đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học tỉnh An Giang” [33]. Mục tiêu nghiên cứu chính -7- của đề tài là đánh giá, xác định thực trạng NL sư phạm của GV tiểu học tỉnh An Giang, tìm ra những yếu kém tồn tại, ảnh hưởng đến CLGV tiểu học, đồng thời xây dựng hệ thống các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là NL sư phạm của GV tiểu học. Các đề tài cùng đưa ra những hình ảnh chung nhất về NL sư phạm của người GV (đối tượng là GV tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn tỉnh An Giang), đồng thời cũng xây dựng hệ thống các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ GV và tiến hành các giải pháp, đề ra mô hình bồi dưỡng phù hợp, khả năng nâng cao trình độ GV trong toàn tỉnh.
Với quy trình khảo sát NL xây dựng hệ thống giải pháp thử nghiệm mô hình đào tạo nâng cao NL GV. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của thế giới cũng đề cập đến chất lượng và đánh giá NL GV. Cùng với sự thay đổi quan niệm về mục tiêu của giáo dục và vai trò GV đối với việc học tập của HS, quan niệm về những NL cần thiết của một GV cũng thay đổi. Theo các tác giả Lauer và Dean (2001) [1], vào đầu thế kỷ XX, với quan niệm giáo dục trước hết là giáo dục đạo đức, CLGV đồng nghĩa với đạo đức của GV; thông qua phẩm chất đạo đức của chính mình trong các hoạt động hằng ngày, GV sẽ chuyển tải những giá trị đạo đức cho HS.
Vào những thập niên 40-50 của thế kỷ XX, định nghĩa về CLGV nhấn mạnh những tố chất cá nhân như tính ham học hỏi và sự nhiệt tình. Sang thập niên 60 của thế kỉ XX, định nghĩa này nhấn mạnh đòi hỏi của GV phải có những kĩ năng nghiệp vụ và hành vi sư phạm phù hợp để chuyển tải chương trình giảng dạy đến HS. Ngày nay, định nghĩa về CLGV đã được mở rộng để bao hàm hầu hết các yếu tố NL và phẩm chất đã nêu ở trên. CLGV hiện nay được định nghĩa là một phức hợp các yếu tố cho phép nhà giáo thu hút HS vào những hoạt động có ý nghĩa để thúc đẩy việc học của HS, bao gồm cả kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sư phạm và phẩm chất cá nhân của nhà giáo mà chúng tôi sẽ tóm lược các định nghĩa ở phần cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Thế nào là một GV giỏi? Một GV giỏi có những đặc điểm nổi bật gì so với những GV khác? -8- Cũng theo Lauer và Dean (2004) [1], các nghiên cứu về đặc điểm của GV giỏi ở Hoa Kỳ nhằm giúp các nhà quản lý đưa ra tiêu chí để tuyển dụng và đánh giá GV đã cho thấy các GV giỏi có chung đặc điểm sau đây: (1) Có kiến thức chuyên môn đầy đủ về lĩnh vực mình phụ trách giảng dạy, điều này rất quan trọng đối với các môn khoa học tự nhiên.