MỞ ĐẦU Nƣớc là một phần tất yếu của cuộc sống. Chúng ta không thể sống nếu không có nƣớc vì nó cung cấp cho mọi nhu cầu sinh hoạt của con ngƣời. Con ngƣời sử dụng nƣớc hằng ngày để phục vụ cho những hoạt động sống của mình. Với sự phát triển kinh tế nhƣ hiện nay, nƣớc không chỉ là sự sống còn của riêng một quốc gia mà còn là vấn đề của tất cả các tập thể cá nhân, mọi vùng, mọi khu vực ở khắp nơi trên trái đất.
Song song với sự phát triển về kinh tế thì con ngƣời càng ngày thải ra nhiều chất thải vào môi trƣờng làm cho chúng bị suy thoái và gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng mà trong đó chất lƣợng nƣớc là mối quan tâm hàng đầu. Có quản lý tốt, kiểm soát đƣợc nguồn nƣớc sử dụng đầu vào thì ta mới có thể làm giảm bớt và khắc phục tình trạng nƣớc bị ô nhiễm. Sông Đà, còn gọi là sông Bờ là phụ lƣu lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hƣớng Tây bắc - Đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ.
Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lƣu vực là 52. Đoạn ở Việt Nam dài 527 km (có tài liệu ghi 543 km), với 2,2 triệu ngƣời sinh sống. Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Sông có lƣu lƣợng nƣớc lớn, cung cấp 31% lƣợng nƣớc cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam.
Sông Đà là lƣu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trƣng bao gồm các nguồn sinh vật với mức đa dạng sinh học cao. Sông Đà có một vai trò rất lớn trong đời sống của ngƣời dân Tây Bắc. Dòng sông mang đến cho ngƣời dân ở đây cuộc sống ấm no đầy đủ hơn. Bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thì việc bảo vệ nguồn nƣớc của dòng sông cũng nhƣ sự đa dạng sinh học trên dòng sông cũng là vấn đề rất cần đƣợc quan tâm.
Chính vì những điều đó mà đề tài “Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Đà đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hòa Bình và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường" là một sự cần thiết cho việc quản lý chất lƣợng nƣớc của lòng hồ sông Đà. Mục tiêu của đề tài bao gồm: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tìm hiểu chất lƣợng nƣớc sông Đà khu vực chảy qua địa phận Hòa Bình dựa vào các thông số thủy lý, hóa học - Sơ bộ điều tra thành phần loài Động vật nổi, Thực vật nổi - Đánh giá chất lƣợng nƣớc tại các điểm nghiên cứu bằng các thông số thủy lý hóa và các chỉ số sinh học. - Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trƣờng nƣớc sông Đà. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hiện trạng môi trƣờng nƣớc mô ̣t số sông miền Bắ c Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội. Sự phát triển không ngừng của kinh tế đã làm cải thiện đáng kể bộ mặt của đất nƣớc, đời sống dân sinh đƣợc nâng cao lên, nhƣng đi cùng với nó là các nguy cơ bùng nổ trong đó có nguy cơ về sự ô nhiễm môi trƣờng, đặc biệt là môi trƣờng nƣớc. Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nƣớc diễn ra phổ biến và nghiêm trọng đang là thách thức lớn trong công tác bảo vệ tài nguyên nƣớc, đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu sử dụng nƣớc một cách phù hợp. Ở miền Bắc, sông Hồng tại Hà Nội có hàm lƣợng COD, BOD cao hơn tiêu chuẩn cho phép so với nguồn nƣớc loại A tới 3-5 lần, các chỉ tiêu NH4, NO3 đều cao hơn gấp 1.
Sông Thƣơng tại Bắc Giang có hàm lƣợng COD cao hơn tiêu chuẩn cho phép với nguồn nƣớc loại A tới 10mg/l, hàm lƣợng NO2 cao tới 0. Tại Hải Phòng tổng lƣợng nƣớc thải sinh hoạt và công nghiệp của thành phố khoảng 65000 – 75000 m3/ ngày đêm. Nƣớc thải từ các cống xả rất bẩn, hàm lƣợng BOD từ 60 – 390mg /l, COD từ 80 – 500mg/l. Toàn bộ hệ thống nƣớc thải này đổ thẳng ra sông Cấm và sông Tam Bạc.
Hàng năm trên đồng ruộng Hải Phòng ngƣời dân đã đổ ra lƣợng thuốc trừ sâu rất lớn với lƣợng thuốc hóa học rất nhiều gây nên sự ô nhiếm nguồn nƣớc mặt [5]. Cũng ở miền Bắc, môi trƣờng nƣớc mặt tại lƣu vực sông Nhuệ - Đáy đang chịu ảnh hƣởng mạnh của nƣớc thải sinh hoạt và các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề và nuôi trồng thủy sản trong khu vực. Chất lƣợng nƣớc của nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động, đặc biệt vào mùa khô, giá trị các thông số BOD5, COD, Coliform tại các điểm đo đều vƣợt QCVN08:2008/BTNMT loại A1 nhiều lần. Hiện mỗi ngày sông Nhuệ - Đáy phải tiếp nhận gần 4 triệu m3 nƣớc thải, trong đó lƣợng nƣớc thải từ trồng trọt, chăn nuôi chiếm 62%.
Trong tổng các nguồn thải đang gây ô nhiễm cho lƣu vực sông này, Thành phố Hà Nội chiếm tới 48,8%, tiếp đó là các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và thấp nhất là Hòa Bình chiếm 4,4%. Riêng 45500 cơ sở sản xuất kinh doanh, 19 khu công nghiệp, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều cụm công nghiệp và khoảng 450 làng nghề ở 5 tỉnh và thành phố ƣớc tính mỗi năm xả thải 232 triệu m3, làm môi trƣờng lƣu vực sông Nhuệ - Đáy ngày một ô nhiễm nghiêm trọng và đang gia tăng theo thời gian [ 15]. Tại sông Nhuệ, khu vực đầu nguồn sau khi nhận nƣớc sông Hồng, nƣớc sông hầu nhƣ không bị ô nhiễm. Tuy nhiên từ đoạn sông chảy qua khu vực Hà Đông (Phúc La) cho tới trƣớc khi nhận nƣớc sông Tô Lịch, nƣớc đã bắt đầu bị ô nhiễm: nồng độ các chất ô nhiễm tại các điểm đo đều vƣợt QCVN loại A1 nhiều lần.
Sau khi tiếp nhận nƣớc thải của sông Tô Lịch, nƣớc sông Nhuệ đã bị ô nhiễm nặng. Có thể thấy nƣớc thải sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nƣớc thải chính của toàn bộ các quận nội thành Hà Nội) là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho sông Nhuệ (từ điểm sông Cầu trở đi). Lƣợng nƣớc thải đổ xuống sông Tô Lịch quá lớn khiến dòng sông không còn khả năng tự làm sạch. Hàm lƣợng BOD5 vƣợt chỉ tiêu cho phép loại B tới 2 lần, COD vƣợt tới 1,5 lần, NH4+ vƣợt 30 lần và Coliform vƣợt tới gần 50 lần chỉ tiêu cho phép [5].
Chất lƣợng nƣớc lƣu vực sông Đáy và các sông khác ở khu vực Bắc Bộ bị ô nhiễm ở mức nhẹ hơn sông Nhuệ và ô nhiễm mang tính cục bộ. Một số nơi chỉ chịu ảnh hƣởng từ nƣớc thải sinh hoạt, một số nơi khác lại chịu ảnh hƣởng của nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải công nghiệp của thành phố Phủ Lý dồn xuống. Một số khu vực nhƣ khu vực nhận nƣớc thải của Hà Đông (cầu Mai Lĩnh) và hợp lƣu với sông Nhuệ (cầu Hồng Phú), nƣớc sông Đáy bị ô nhiễm đáng kể, các thông số đều không đạt QCVN08:2008/BTNMT loại A1 [9]. Nhìn chung mức độ ô nhiễm có sự khác biệt giữa các sông thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy.
Theo kết quả quan trắc, ngoại trừ các sông, hồ trong nội thành Hà Nội, hàm lƣợng các thông số ô nhiễm trên các nhánh sông phụ lƣu thuộc lƣu vực sông Nhuệ - Đáy vẫn đáp ứng yêu cầu QCVN08:2008/BTNMT loại A2 và B1 [14]. Sông Cầu đoạn qua tỉnh Bắc Kạn có dấu hiệu ô nhiễm, các thông số xấp xỉ ngƣỡng QCVN08:2008/BTNMT đối với nguồn loại A1. Khi chảy vào thành phố Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm gia tăng đáng kể do chịu tác động của các hoạt động sản xuất công nghiệp và khai thác khoáng sản. Tại các điểm đo trên đoạn sông 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chảy qua tỉnh Thái Nguyên, giá trị quan trắc các thông số ô nhiễm đều vƣợt QCVN08:2008/BTNMT loại A1.
Vùng hạ lƣu sông Cầu (đoạn chảy qua Bắc Giang và Bắc Ninh), mặc dù chịu ảnh hƣởng do tiếp nhận nƣớc của sông Cà Lồ tại Bắc Giang và sông Ngũ Khê tại Bắc Ninh nhƣng nhìn chung, mức ô nhiễm vẫn ở dƣới ngƣỡng cho phép của QCVN08:2008/BTNMT loại A2 [17]. Sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ô nhiễm nghiêm trọng của lƣu vực sông Cầu do hoạt động của các cơ sở sản xuất và đặc biệt là các làng nghề trải suốt từ Đông Anh, Hà Nội cho đến cống Vạn An của Bắc Ninh. Nƣớc sông bị ô nhiễm hữu cơ, hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng tại các vị trí đều cao hơn QCVN08:2008/BTNMT loại A1 nhiều lần, xấp xỉ hoặc vƣợt ngƣỡng B2[14].2 Sơ lƣợc về chế độ thuỷ văn tại vùng hồ sông Đà Hòa Bình có tài nguyên nƣớc mặt rất dồi dào, tổng lƣợng nƣớc hàng năm của các con sông suối trong tỉnh khoảng 60 tỷ m3. Ngoài ra trong tỉnh cũng có lƣợng hồ chứa khá lớn, ngoài hồ Hòa Bình còn có khoảng 335 hồ chứa nƣớc khác.
Chỉ tính riêng hồ chứa nƣớc có diện tích nƣớc mặt trung bình từ 5 hecta trở lên thì có 135 hồ phân bố khắp các huyện, thành phố trong tỉnh với diện tích nƣớc mặt lên tới 1294,4 ha là nguồn cung cấp nƣớc dồi dào cho tƣới tiêu trong nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ hoạt động sinh hoạt cho ngƣời dân, cũng nhƣ trong chăn nuôi thủy sản và là nguồn nƣớc dự trữ cho mùa hè sử dụng cho các vụ đông xuân. Hồ Hòa Bình có dung tích 9,5 tỷ m3 phục vụ cho mục tiêu kinh tế và quốc phòng nhƣng trong đó phục vụ cho việc phát điện của nhà máy thủy điện Hòa Bình – nguồn cung cấp điện năng cho cả nƣớc – và có nhiệm vụ cắt lũ về mùa mƣa, điều tiết nƣớc chống hạn hán về mùa khô cho đồng bằng sông Hồng [10]. Chảy trong địa phận tỉnh Hòa Bình có 4 hệ thống lƣu vực sông suối chính là sông Đà, sông Bôi, sông Bƣởi và sông Bùi. Các sông suối vừa và nhỏ khác đều chảy vào 4 con sông này.
Hệ thống sông suối trong tỉnh phân bố không đồng đều, có mật độ lƣới sông trung bình khoảng 0,6km/km2. Tuy nhiên có những nơi mật độ chỉ đạt 0,3km/ km2 chiếm 1541 km2, đó là các địa danh thuộc các huyện Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Thủy, Yên Thủy và phía Tây huyện Đà Bắc, phía đông nam huyện Lạc Thủy. Phần diện tích có mật độ lƣới sông từ 0,3 – 0,8km/km2 chiếm khoảng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.