Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu tiềm năng tài nguyên bauxit dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, đứng thứ 3 thế giới về quy mô trữ lượng khoáng sản nhôm. Trong bức tranh phân bố địa chất quốc gia, vùng Tây Nguyên tập trung đến 94% tổng tài nguyên bauxit với khoảng 5,2 tỷ tấn, trong đó tỉnh Lâm Đồng chiếm 975 triệu tấn (tương đương 18%). Sự hình thành và đi vào vận hành của Tổ hợp Bauxit - Nhôm Lâm Đồng tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm với công suất thiết kế 600.000 tấn alumin/năm trên diện tích quy hoạch 22,836 km2 (2.283,6 ha) mở ra cơ hội phát triển kinh tế vượt bậc, nhưng đồng thời tạo áp lực gay gắt lên hệ sinh thái tự nhiên. Theo tính toán chiến lược, hoạt động khai thác mỏ lộ thiên và tuyển rửa bauxit có thể phát sinh trên 8,2 triệu m3 quặng đuôi/năm và tiêu thụ tới 37,5 triệu m3 nước tuyển rửa, dẫn đến nguy cơ xáo trộn lớp phủ đất bazan màu mỡ, suy giảm chất lượng nước mặt và phát tán bụi công nghiệp.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định chính xác các nguồn thải chủ yếu, đánh giá hiện trạng chất lượng 3 thành phần môi trường cơ bản (đất, nước, không khí) cùng cảnh quan địa mạo, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường khả thi cho quá trình khai thác và tuyển quặng bauxit tại địa bàn thị trấn Lộc Thắng. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 4/2015 đến tháng 8/2016, bao quát toàn diện mùa khô và mùa mưa Tây Nguyên. Kết quả luận văn đóng vai trò nền tảng khoa học định lượng giúp các đơn vị quản lý nâng cao hiệu quả thu hồi tuần hoàn nước lên 75 - 80%, giảm thiểu trên 85% nguy cơ bồi lắng hạ lưu suối Danos và bảo đảm an toàn sinh thái cho hơn 18.000 cư dân phụ cận khu vực mỏ Tân Rai.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phong hóa laterit hình thành quặng bauxit từ đá bazan kỷ Neogen - Đệ Tứ (N2 - Q1) và lý thuyết lan truyền chất ô nhiễm trong hoạt động khai khoáng lộ thiên. Cấu trúc địa tầng bauxit phong hóa đặc trưng bởi đới quặng dày 2 đến 15 m nằm ngay sát bề mặt, dẫn đến việc bóc tầng phủ gây xáo trộn đất trên diện rộng. Mô hình đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tích hợp chuỗi hoạt động từ bóc đất mặt, nổ mìn, xúc bốc quặng nguyên khai (QNK), nghiền sàng rửa tại xưởng tuyển cho đến khâu thải quặng đuôi ra các hồ chứa chuyên dụng (TSF).
Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: quặng nguyên khai (quặng bauxit thô chưa qua làm giàu), quặng đuôi tuyển rửa (chất thải mịn sau tuyển rửa cơ học với 74,54% hạt mịn dưới 0,044 mm), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và dung lượng hấp phụ kim loại nặng của đất laterit.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của đề tài tích hợp giữa chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2015 từ Trung tâm Môi trường Công nghiệp (đơn vị sở hữu phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025, VILAS 246 và VIMCERT 141) cùng 2 đợt đo đạc, lấy mẫu quan trắc thực địa chuyên sâu trong năm 2015 (đợt 1 mùa khô tháng 1-6/2015 và đợt 2 mùa mưa tháng 7-12/2015).
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế mang tính đại diện cao, áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại 35 vị trí trọng yếu:
- 16 mẫu không khí: gồm 8 điểm môi trường xung quanh (KXQ1 - KXQ8) cách nguồn phát thải từ 100 đến 300 m và 8 điểm môi trường lao động sản xuất (KSX1 - KSX8) tại khai trường, bãi đập thô, tuyến vận chuyển và xưởng tuyển.
- 12 mẫu nước: gồm 5 mẫu nước mặt (NM1 - NM5) trên dòng suối Danos và hồ Cát Quế, 5 mẫu nước ngầm sinh hoạt (NN1 - NN5) tại giếng khoan, giếng đào dân cư, cùng 2 mẫu nước thải (NTSX tại xưởng tuyển và NTSH).
- 7 mẫu đất (MĐ1 - MĐ7): lấy tại khai trường, bãi chứa quặng, bãi thải đất đá và khu vực đệm tiếp giáp.
Quy trình thu thập và phân tích mẫu tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế: TCVN 5067:1995 (xác định bụi), TCVN 6137:2009 (NO2 bằng phương pháp Griess-Saltzman), TCVN 5971:1995 (SO2), TCVN 7878-2:2010 (tiếng ồn), TCVN 6492:2011 (pH nước), SMEWW 5210B:2012 (BOD5), HACH 8000 (COD), cùng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS (SMEWW 3113B và SMEWW 3114) để định lượng kim loại nặng (Pb, As, Cd, Cu, Zn, Fe, Mn). Toàn bộ dữ liệu được đối sánh với các quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 26:2010/BTNMT, QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 03:2008/BTNMT và QCVN 40:2011/BTNMT, sau đó xử lý tương quan và lập đồ thị bằng Microsoft Excel.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân tích thực nghiệm và xử lý chuỗi số liệu quan trắc 5 năm ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:
- Thứ nhất, ô nhiễm không khí mang tính cục bộ rõ nét: Tại khu vực khai trường sản xuất KSX1 và trạm đập quặng, nồng độ bụi lơ lửng trong mùa khô dao động ở mức cao. Tuy nhiên, tại 8 điểm không khí xung quanh khu dân cư (KXQ1 - KXQ8), nồng độ bụi lơ lửng, SO2 (giới hạn phát hiện 7 µg/m3), NO2 (giới hạn phát hiện 3 µg/m3) và CO đều thấp hơn từ 1,5 đến 3 lần so với ngưỡng giới hạn tối đa cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT.
- Thứ hai, chất lượng nước mặt chịu tác động mạnh bởi quy luật thời tiết: Vào mùa mưa (tháng 7-12), nồng độ tổng chất rắn lơ lửng (TSS) tại các điểm suối Danos tiếp nhận nước tràn bề mặt (NM2, NM3) tăng vọt từ 35% đến 60% so với mùa khô. Dù vậy, hàm lượng các kim loại nặng hòa tan nguy hại như Asen (dưới 0,6 µg/l), Cadimi (dưới 0,001 mg/l) và Chì (dưới 0,001 mg/l) trong toàn bộ lưu vực đều nằm trong giới hạn an toàn của QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1).
- Thứ ba, môi trường nước ngầm tương đối ổn định nhưng có nguy cơ vi sinh: Giá trị pH nước ngầm tại 5 vị trí giếng quan trắc (NN1 - NN5) dao động từ 5,8 đến 6,5, hàm lượng sắt tổng số đạt từ 0,05 đến 0,22 mg/l. Đáng chú ý, chỉ số Coliform xuất hiện rải rác ở một số giếng đào nông của người dân vào mùa mưa (đạt mức 15 đến 45 MPN/100ml), chủ yếu do ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi, sinh hoạt bề mặt nông hộ chứ không xuất phát từ hiện tượng thẩm thấu hồ thải quặng đuôi.
- Thứ tư, bản chất hóa lý của bùn quặng đuôi không mang độc tính hóa học: Bùn thải sau tuyển rửa cơ học có pH trung tính đạt từ 6,6 đến 6,7, thành phần chính gồm Al2O3 (30,25%), Fe2O3 (33,74%), SiO2 (10,82%) và TiO2 (6,15%). Cấp hạt siêu mịn dưới 0,044 mm chiếm tỷ trọng áp đảo 74,54%, khẳng định đây là chất thải quáng đuôi không sinh axit, hoàn toàn khác biệt với bùn đỏ phát sinh trong công đoạn hòa tách hóa chất sản xuất alumin.
Thảo luận kết quả
Sự biến động chất lượng môi trường tại khu vực mỏ Lộc Thắng chịu chi phối sâu sắc bởi các yếu tố tự nhiên bản địa. Khí hậu Bảo Lâm có lượng mưa hàng năm rất lớn, dao động từ 3.143 mm đến 5.190 mm, trong đó 70 - 75% lượng mưa dồn dập trong 6 tháng mùa mưa kết hợp với địa hình đồi dạng bán bình nguyên dốc từ 5 đến 15 độ đã thúc đẩy quá trình xói mòn, rửa trôi bề mặt bãi thải đất đá. Khi so sánh với công nghệ tuyển bauxit tại mỏ Weipa (Úc) và mỏ Nhân Cơ (Đắk Nông), việc áp dụng bể cô đặc bùn thải tại mỏ Lộc Thắng giúp tuần hoàn trực tiếp khoảng 65% lượng nước thải trở lại dây chuyền sản xuất, hạn chế đáng kể nhu cầu khai thác nước mặt bổ cập từ hồ Tân Rai.
Về phương diện biểu diễn trực quan, các chuỗi dữ liệu môi trường trong nghiên cứu có thể được thể hiện qua các đồ thị đường đa trục (multi-axis line charts) mô tả mối tương quan chặt chẽ giữa lưu lượng mưa tháng và nồng độ TSS, BOD5 tại suối Danos giai đoạn 2011 - 2015. Đồng thời, biểu đồ hình tròn (pie chart) phân bố cấp hạt quặng đuôi sẽ làm nổi bật tỷ lệ 74,54% hạt mịn dưới 0,044 mm, giúp các nhà quản lý mỏ dễ dàng nhận định nguy cơ bồi lấp lòng hồ để chủ động gia cố đập chắn chất thải.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả quan trắc thực địa và phân tích nguyên nhân ô nhiễm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:
- Triển khai phun ẩm dập bụi định kỳ trên toàn bộ 15 km tuyến đường vận chuyển nội mỏ và bãi tập kết quặng nguyên khai với tần suất 3 - 4 lần/ngày trong các tháng mùa khô (tháng 11 đến tháng 4), giảm thiểu từ 75% đến 85% lượng bụi phát tán; giao Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng chủ trì thực hiện thường xuyên từ quý I/2017.
- Nâng cấp hệ thống bể cô đặc bùn quặng đuôi và nạo vét dung tích hữu dụng của các hồ lắng số 5 và số 6, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thu hồi tuần hoàn nước tái sử dụng lên 75 - 80% trước tháng 12/2017; do Ban Quản lý Dự án Bauxit Tân Rai phối hợp cùng Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim thực hiện.
- Thực hiện hoàn thổ và phục hồi môi trường cuốn chiếu trên 100% diện tích khai trường đã kết thúc chu kỳ xúc bốc quặng (trung bình 20 - 30 ha/năm), tiến hành phủ trả lớp đất mặt hữu cơ dày 0,5 - 1 m kết hợp trồng keo tai tượng và cỏ Vetiver chống xói mòn trong vòng 6 tháng sau khai thác; do Đội Hoàn thổ Mỏ triển khai liên tục.
- Lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục đối với các chỉ tiêu TSS, pH, COD và lưu lượng xả thải tại hạ lưu suối Danos và cống xả tràn hồ Cai Bảng trước quý II/2018, truyền dữ liệu 24/7 trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng để giám sát và ứng phó kịp thời sự cố môi trường.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, Chi cục Bảo vệ Môi trường Tây Nguyên): Sử dụng bộ số liệu hiện trạng và danh mục nguồn thải để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương, phục vụ công tác thanh tra, hậu kiểm và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án khai khoáng.
- Ban quản lý và kỹ sư vận hành tại các tổ hợp bauxit - alumin (Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Công ty Nhôm Đắk Nông, Công ty Nhôm Lâm Đồng): Ứng dụng quy trình vận hành bể cô đặc quặng đuôi, giải pháp tuần hoàn nước 65 - 80% và các biện pháp bảo đảm an toàn hồ thải vào thực tế sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí năng lượng.
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Kỹ thuật Mỏ: Tham khảo phương pháp luận kết hợp dữ liệu hồi cứu 5 năm với lấy mẫu thực nghiệm 35 vị trí tại vùng bán bình nguyên laterit để xây dựng đề cương nghiên cứu học thuật.
- Các đơn vị tư vấn môi trường và doanh nghiệp khai thác khoáng sản lộ thiên: Ứng dụng mô hình đánh giá rủi ro vỡ đập đuôi quặng và quy trình hoàn thổ sinh thái cuốn chiếu để lập dự án cải tạo phục hồi môi trường mỏ kim loại màu.
Câu hỏi thường gặp
Bùn thải quặng đuôi trong quá trình tuyển quặng bauxit tại Lộc Thắng có phải là bùn đỏ độc hại không? Bùn thải từ xưởng tuyển bauxit Lộc Thắng là quặng đuôi cơ học, hoàn toàn không phải bùn đỏ (red mud). Quặng đuôi có độ pH trung tính từ 6,6 đến 6,7, chỉ chứa đất sét, thạch anh tự nhiên và khoáng vật nhôm, sắt không qua xử lý hóa chất. Trong khi đó, bùn đỏ là chất thải phát sinh ở khâu hòa tách alumin bằng dung dịch kiềm nóng NaOH, có tính ăn mòn và độ kiềm rất cao.
Tác động môi trường đáng lo ngại nhất trong hoạt động tuyển quặng bauxit tại Bảo Lâm là gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ bồi lắng lòng suối và tiêu hao tài nguyên nước mặt. Quá trình tuyển quặng đòi hỏi lượng nước rửa lớn với dự báo toàn ngành cần khoảng 37,5 triệu m3/năm. Đồng thời, hạt mịn dưới 0,044 mm trong bùn đuôi chiếm tới 74,54%, nếu xảy ra hiện tượng tràn bờ hồ lắng vào mùa mưa lũ (lượng mưa lên tới 5.190 mm) sẽ gây sa bồi nghiêm trọng hạ lưu suối Danos.
Chất lượng không khí tại các khu dân cư lân cận mỏ bauxit Tân Rai có đạt chuẩn quy định không? Tại 8 vị trí quan trắc không khí xung quanh khu dân cư (KXQ1 - KXQ8) cách khai trường từ 100 đến 300 m, các chỉ tiêu nồng độ bụi lơ lửng, khí độc SO2, NO2, CO và tiếng ồn đều đạt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT và QCVN 26:2010/BTNMT. Ô nhiễm bụi chỉ diễn ra cục bộ tại các vị trí xúc bốc khai trường và tuyến đường nội mỏ trong những ngày khô hanh.
Nước ngầm tại thị trấn Lộc Thắng có bị nhiễm kim loại nặng từ khu vực khai thác quặng hay không? Kết quả phân tích 5 mẫu nước ngầm (NN1 - NN5) cho thấy các kim loại nặng nguy hại như Asen (dưới 0,6 µg/l), Chì (dưới 0,001 mg/l), Cadimi (dưới 0,001 mg/l) đều đạt quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT. Sự xuất hiện của vi khuẩn Coliform tại một số giếng đào nông gia đình (15 - 45 MPN/100ml) xuất phát từ khâu vệ sinh chuồng trại sinh hoạt bề mặt chứ không do ngấm từ hồ thải quặng mỏ.
Giải pháp hoàn thổ sinh thái nào mang lại hiệu quả cao nhất cho khai trường bauxit sau khai thác? Giải pháp tối ưu là kỹ thuật hoàn thổ cuốn chiếu từng phần ngay sau khi bóc tách quặng. Đất tầng phủ ban đầu được bóc riêng và lưu trữ để trải lại bề mặt hố mỏ với độ dày từ 0,5 đến 1 m, kết hợp trồng keo tai tượng và cỏ Vetiver chống xói mòn sườn dốc, giúp tái tạo 100% thảm thực vật che phủ và ổn định địa mạo trong vòng 12 đến 24 tháng.
Kết luận
- Đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải tại Tổ hợp Bauxit Tân Rai quy mô 22,836 km2 với công suất 600.000 tấn alumin/năm.
- Xác định chất lượng không khí xung quanh và nước ngầm tại thị trấn Lộc Thắng cơ bản đạt quy chuẩn quốc gia, trong khi nước mặt suối Danos chịu ảnh hưởng gia tăng TSS từ 35% đến 60% vào mùa mưa.
- Khẳng định bản chất hóa lý của bùn quặng đuôi là phi độc tính (pH trung tính 6,6 - 6,7) nhưng đòi hỏi kiểm soát an toàn đập chắn trước tỷ lệ 74,54% cấp hạt mịn dưới 0,044 mm.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường 5 năm (2011 - 2015) đồng bộ tại 35 vị trí trọng điểm phục vụ công tác quản lý tài nguyên địa phương.
- Đề xuất lộ trình 4 giải pháp trọng tâm nhằm nâng tỷ lệ tuần hoàn nước lên 75 - 80% và hoàn thổ sinh thái 20 - 30 ha/năm.
Luận văn đã cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng bauxit tại tỉnh Lâm Đồng nói riêng và vùng Tây Nguyên nói chung. Trong giai đoạn 2017 - 2020, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý cần phối hợp chặt chẽ để vận hành trạm quan trắc tự động liên tục và đẩy mạnh phủ xanh hoàn thổ mỏ. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và kỹ sư mỏ quan tâm có thể khai thác chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng các mô hình kỹ thuật và bộ dữ liệu quan trắc chuyên sâu vào thực tiễn quản trị môi trường.