MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Khai thác khoáng sản nói chung và khai thác đá xây dựng nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên khai thác mỏ đều gây ra tác động phức tạp tới môi trường tự nhiên và xã hội, đặc biệt là môi trường tự nhiên. Trong quá trình khai thác mỏ sẽ làm biến dạng địa hình, địa mạo và cảnh quan khu vực.
Sau khi kết thúc khai thác mỏ thường để lại các dạng địa hình có tiềm năng gây sạt lở cao, làm ô nhiễm môi trường, gây nguy hiểm cho con người, súc vật, động vật hoang dã trong khu vực. Theo quy định của Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ môi trường, trong giai đoạn lập dự án đầu tư, việc đánh giá tác động môi trường và lập đề án cải tạo và phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản được tiến hành trước khi cấp giấy phép khai thác khoáng sản. Tuy nhiên do nhiều lý do nên trong thực tế đa số các mỏ đang khai thác chưa có định hướng hữu hiệu cho quá trình cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác hoặc các mỏ đã kết thúc khai thác vẫn chưa thực hiện tốt quy chế đóng cửa mỏ theo quy định. Thực tế thì hoạt động khai thác mỏ là trải qua một thời hạn nhất định, quá trình sử dụng đất mang tính tạm thời, khai thác mỏ cũng đã lấy đi một lượng khá lớn về khoáng sản và đất đá, làm biển đổi địa hình, làm thay đổi cảnh quan.
Công tác cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác mỏ, trả lại hiện trạng như ban đầu là một nhiệm vụ rất khó. Thông thường hướng lựa chọn được đề xuất là cải tạo mỏ và đánh giá tình trạng môi trường đất sau khai thác để đưa ra mục đích sử dụng đất có hiệu quả, có lợi được ưu tiên hàng đầu. Bởi vậy thời điểm trước khi cấp giấy phép khai thác khoáng sản việc đánh giác tác động môi trường của quá trình khai thác mỏ, đề xuất phương án cải tạo mỏ và cải tạo môi trường đất để có hướng sử dụng đất sau khai thác hết sức quan trọng. Việc đánh giá và dự báo tốt tình trạng môi trường sau khi kết thúc khai thác mỏ trong đó có môi trường đất sẽ đưa ra giải pháp cải tạo, sử dụng đất đúng đắn qua đó 1 z óp phần làm hạn chế các nguy cơ tiêu cực đến môi trường.
Phương án đề xuất khả thi cũng có ý nghĩa đặc biệt cho công tác quản lý môi trường và kế hoạch khai thác mỏ. Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh hiện nay có khoảng 168 mỏ đá vật liệu xây dựng, hầu hết các mỏ đang đang thực hiện cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản mới (Luật 60/2010/QH12). Mỏ đá xây dựng Sơn Thủy đang được làm thủ tục cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản, mỏ thuộc xã Sơn Thủy, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Mỏ có diện tích 3,7 ha, thuộc vùng quy hoạch khai thác và chế biến đá xây dựng của tỉnh Hà Tĩnh.
Công tác đánh giá mức độ ảnh hưởng tới môi trường do quá trình khai thác đá tại mỏ Sơn Thủy hết sức quan trọng, để từ đó đề xuất giải pháp phù hợp cho công tác cải tạo môi trường đất sau khai thác, đưa vùng đất tại khu mỏ được sử dụng theo hướng có lợi, góp phần bảo vệ môi trường, ngăn ngừa các sự cố đáng tiếc xảy ra. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp phù hợp cho công tác cải tạo môi trường đất sau khai thác tại mỏ đá Sơn Thủy” là một việc hết sức cần thiết. Đề tài là bước khởi đầu cho công tác nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện cải tạo phục hồi môi trường của các dự án khai thác mỏ vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Qua đây góp phần vào việc điều tra, đánh giá và dự báo tình trạng môi trường đất của các dự án hậu khai thác mỏ trong khu vực.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu để đề xuất những giải pháp khả thi nhằm cải tạo môi trường đất hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên đất đai, sinh vật khu vực mỏ. Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường tại mỏ đá Sơn Thủy, xã Sơn Thủy, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. - Dự báo tình trạng mỏ, môi trường sau khai thác và đề xuất giải pháp cải tạo môi trường đất sau khi kết thúc khai thác mỏ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Các vấn đề môi trường liên quan đến khai thác đá. Các tác động do bụi, khí độc, tiếng ồn, độ rung: *.Tác động do bụi: Bụi chủ yếu là bụi silic phát tán vào trong không khí với nồng độ và tải lượng khá lớn, nhất là trong khu vực khai thác. Bụi sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người cũng như động, thực vật trong vùng. Bụi phát sinh nhiều ở các khâu khoan lỗ mìn, nổ mìn, dây chuyền chế biến đá và vận chuyển đá ra khu chế biến.
Nếu không có biện pháp giảm thiểu bụi nhất là công tác khoan và nổ mìn thì khi điều kiện bất lợi xảy ra (Trời khô hanh, vận tốc gió lớn) bụi sẽ phát tán vào môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép trên diện rộng, có thể ảnh hưởng tới vị trí cách xa khu mỏ. Khi đó người, động vật và cây cối sống trong vùng ảnh hưởng này sẽ bị tác động do bụi. Tác hại của bụi đối với con người: - Bụi vào phổi gây nên những bệnh về hô hấp, có thể gây dị ứng cho những người mẫn cảm với bụi, bịt kín lỗ chân lông gây cản trở quá trình bài tiết. Đặc biệt với các cơ sở có công nghệ liên quan đến bụi đá, xi măng,… thì khả năng gây bệnh phổi rất cao, bệnh đường hô hấp tiến triển nhanh gây khó thở rõ rệt, suy phổi điển hình, tràn khí phế mạc,.… Ngoài ra, bụi cũng có khả năng gây nhiễm bẩn nguồn nước, làm ảnh hưởng đến con người, động vật sử dụng trực tiếp hay gián tiếp nguồn nước bị nhiễm bụi nói trên.
- Ô nhiễm bụi còn có tác dụng xấu đến hệ thực vật trong khu vực, biểu hiện thường thấy là cây cối trong khu vực lân cận thường bị phủ một lớp bụi trên lá, từ đó gây cản trở quá trình quang hợp của cây, cây cối sẽ chậm phát triển, lá úa vàng, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát triển và đơm hoa kết trái của cây trồng. Bụi bám vào các công trình kiến trúc sẽ là nguyên nhân gây bào mòn hóa học các công trình một cách mạnh mẽ, làm mất mỹ quan và hư hại công trình. Tác động do hí độc: 3 z Các khí độc sinh ra chủ yếu do các phương tiện vận chuyển và bốc xúc gây ra, các khí bao gồm CO, SO2, NOx, VOC. Khí độc sinh ra do các phương tiện tham gia khai thác đá hầu hết chưa vượt quy chuẩn cho phép.
Tuy nhiên khi số lượng máy tham gia tăng lên và thời gian tiếp xúc với các khí này tăng sẽ tác động đáng kể tới sức khỏe con người cũng như sự phát triển của cây cối trong khu vực dự án.Tác động do tiếng ồn: Tiếng ồn phát sinh từ hoạt động nổ mìn, đập đá, từ khu vực chế biến đá và từ phương tiện vận chuyển đá. sẽ ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh, môi trường lao động của người công nhân. Khi tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn ở mức cao, người tiếp xúc trực tiếp có thể mắc các bệnh về tai (Thủng màng nhĩ, ù tai, điếc. Tác động do rung động: Giai đoạn nổ mìn gây chấn động và rung lớn nhất nhưng không liên tục và thời gian tác động ngắn, mức độ lan tỏa rộng.
Độ rung do các phương tiện vận chuyển, máy đập đá và khoan đá có thời gian tác động lâu dài hơn và liên tục hơn, ảnh hưởng mạnh hơn và trực tiếp nhất tới người lao động. Rung động và chấn động tác động lên con người có thể làm chấn thương các cơ quan trên cơ thể nhất là cơ và xương. Đối với các công trình kiến trúc có thể bị biến dạng, hư hỏng, nứt gãy. khi bị tác động.
Các tác động do nước mưa chảy tràn, do nước thải sinh hoạt. Tác động của nước mưa chảy tràn: Tác động dễ nhận thấy nhất của nước mưa chảy tràn trong giai đoạn này là sự ngập úng cục bộ tạo ra các ổ vi khuẩn tập trung có thể truyền nhiễm bệnh cho người và động vật. Nước mưa chảy tràn cuốn theo một lượng lớn đất, cát, bột đá nguyên vật liệu thừa và các chất hữu cơ rơi vãi, gây nên hiện tượng bồi lắng, tăng độ đục của nước và giảm hàm lượng ôxy hoà tan trong các khe suối mà nó chảy vào. Sự ô nhiễm này sẽ góp phần làm suy giảm động vật, thực vật dưới nước gây ô nhiễm môi trường nước trong khu vực.
4 z Lưu lượng nước mưa chảy tràn ở giai đoạn sau thường có xu hướng lớn hơn ở giai đoạn trước do diện tích che phủ và lớp đất tơi xốp giúp giữ nước bị bóc bỏ không còn khả năng giữ nước. Ngoài ra, nước mưa chảy tràn ở khu vực bãi thải cũng gây tác động đáng kể tới môi trường nếu như không có biện pháp giảm thiểu tác động ở bãi thải, nước mưa chảy tràn cuốn trôi đất hữu cơ ở bề mặt xuống mương dẫn nước và làm bồi lấp các suối nhỏ.Tác động của nước thải sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt ở giai đoạn này nếu không được thu gom và xử lý sẽ gây tác động không nhỏ tới môi trường nhất là môi trường nước, làm ô nhiễm nguồn nước mặt trong khu vực. Tác động đến môi trường đất. Khu vực mỏ có cấu tạo địa chất là đá granit lộ thiên, tầng đất phong hóa mỏng, quá trình khai thác sẽ bóc tách lớp đất tầng phủ và thảm thực vật, từ đó sẽ làm biến dạng bề mặt địa hình, làm tăng mức độ rửa trôi của đất bở rời.
Các chất thải, nước thải chứa dầu mỡ. khi thải vào vùng đất lân cận sẽ làm thay đổi tính chất đất, làm đất mất dần độ phì nhiêu, đất trở nên trơ và khó canh tác. Tuy nhiên, do vùng đất xung quanh là đất rừng, không có đất nông nghiệp và mục đích của đất cũng đã thay đổi thành đất công nghiệp nên tác động đến môi trường đất là không lớn. Tác động của chất thải rắn và của chất thải nguy hại.