MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng.Việc sử dụng thuốc trong nhân dân đã có từ lâu đời, con người không chỉ biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn làm thuốc chữa bệnh. Trong những thập kỷ gần đây, sự gia tăng dân số quá nhanh, nhu cầu sử dụng cây dược liệu càng nhiều, dẫn đến nhiều loài cây dược liệu trong đó có những cây quý hiếm đã bị tuyệt chủng, 60000 loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại là rất mong manh.Vì vậy song song với việc nghiên cứu về sử dụng cây dược liệu, một số vấn đề cấp bách đó là bảo tồn và phát triển các loài cây dược liệu cũng được đặt ra. Đã có một số chương trình đánh giá nguồn tài nguyên cây dược liệu, một số dự án về bảo tồn và gây trồng thử nghiệm, phát triển cây dược liệu tại một số địa phương.
Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu cụ thể về sự thích nghi, về sinh trưởng và phát triển của từng loại cây dược liệu trong bảo tồn, phát triển trong các dự án tại các địa phương. Để có cơ sở nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát triển các loài cây dược liệu, đặc biệt là các loài cây quý có nguy cơ tuyệt chủng, rất cần có những nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển các loài cây dược liệu góp phần bảo tồn đa dạng sinh vật, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm chữa bệnh và phát triển kinh tế tại các vùng đồng bào dân tộc. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi ngoài thế mạnh về nông lâm nghiệp, thì tiềm năng về cây dược liệu đóng vai trò rất lớn cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Theo số liệu chưa đầy đủ, Bắc Kạn có trên 1.000 loại cây dược liệu, trong đó có gần 20 loại cây quý và hiếm.
Cây dược liệu có ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, tập trung nhiều ở các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ h 2 Đồn, Na Rì, Bạch Thông, Chợ Mới,…. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền y, dược cổ truyền ở địa phương, cũng là nền tảng phát triển kinh tế cho nhiều hộ dân khi mở rộng diện tích trồng các loại cây dược liệu có giá trị. Trong thời gian qua, trên địa bàn của tỉnh cũng đã có một vài đề tài, dự án tiến hành. Tuy nhiên, kết quả chỉ mới dừng lại ở điều tra thực trạng cây dược liệu, trồng thử nghiệm rải rác một số cây mà chưa hệ thống được các vùng trồng dược liệu, loại cây và sản phẩm cho thị trường, chưa thiết lập được chuỗi giá trị từ sản xuất giống, trồng trọt, thu hái, chế biến, chiết xuất, sản xuất, phân phối các sản phẩm.
Đây là hạn chế lớn nhất trong chiến lược phát triển cây dược liệu ở tỉnh Bắc Kạn. Hà Vị là xã nằm ở phía Nam huyện Bạch Thông, gồm 9 thôn bản với 2 dân tộc: Tày (95%) và Kinh cùng sinh sống. Đời sống kinh tế của nhân dân trên địa bàn xã chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp Ủy, chính quyền địa phương, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai có hiệu quả trên địa bàn, nhất là các chương trình mục tiêu Quốc gia, chính sách dân tộc, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói - giảm nghèo tại địa phương.
Xã Hà Vị (huyện Bạch Thông) được dự án “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn” chọn làm địa phương xác định vùng trồng dược liệu, xây dựng mô hình trồng, chế biến dược liệu tạo sản phẩm hàng hóa, liên kết với doanh nghiệp đảm bảo tiếp nhận sản phẩm đầu ra nâng cao thu nhập cho người dân; Tuy nhiên từ khi thực hiện xây dựng các mô hình trồng Hà thủ ô đỏ, cây Ban lá dính, cây Hoài sơn, cây Đẳng sâm…chưa được theo dõi đánh giá sinh trưởng và phát triển, đặc biệt bước đầu xác định năng suất của các loài cây trên, trong đó có cây Hà thủ ô đỏ được trồng trong dự án với diện tích 2,0 ha. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển cây Hà thủ ô đỏ ở xã Hà Vị, huyện h 3 Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.” Nhằm đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn về mở rộng xây dựng mô hình trồng và kinh doanh cây thuốc tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đề tài bước đầu theo dõi, đánh giá sinh trưởng phát triển cây Hà thủ ô đỏ được trồng theo dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn” tại xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Thông qua kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm cơ sở cho việc đưa ra kết luận để phát triển vùng trồng cây dược liệu tập trung, giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, khai thác có hiệu quả tiềm năng tự nhiên, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu cụ thể - Xác định được cụ thể thực trạng phát triển các mô hình trồng cây dược liệu theo dự án của người dân xã Hà Vị, huyện Bạch Thông. - Bước đầu đưa ra được những kết luận về sinh trưởng và phát triển của cây Hà thủ ô đỏ trồng tại xã Hà Vị, huyện Bạch Thông. - Đánh giá được những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong quá trình trồng cây Hà thủ ô đỏ tại xã Hà Vị, huyện Bạch Thông.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc cây Hà thủ ô đỏ tại địa phương và hướng nhân rộng mô hình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học, học tập - Nghiên cứu về cây dược liệu nói chung và cây Hà Thủ ô đỏ nói riêng là một hướng nghiên cứu mới đối với sinh viên. Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn trong phát triển các cây dược liệu cho các địa phương miền núi.
- Thông qua theo dõi, phân tích đánh giá sinh trưởng và phát triển của cây Hà thủ ô đỏ trồng tập trung và trồng dưới tán rừng nhằm xác định mô h 4 hình nào có khả năng sinh trưởng và phát triển là tốt nhất làm cơ sở cho việc nhân rộng mô hình. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu quan trọng đánh giá đúng thực trạng diện tích, khả năng sinh trưởng phát triển cây Hà thủ ô đỏ, bước đầu xác định năng xuất sau 03 năm trồng tại xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. - Đề tài là tài liệu tham khảo về lập kế hoạch phát triển mô hình trồng cây dược liệu có sự tham gia của người dân. h 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2. Khái niệm cây dược liệu Theo Vũ Tuấn Minh (2009) [8], cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng.Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được. Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống ngoại xâm.
Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù. Như vậy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được. Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một. Về sau dần dần con người mới biết tổng kết và đặt ra lý luận.
Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con người đã sử dụng hàng vạn loài thực vật để làm thuốc. Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khác nhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại người làm thuốc. Một loại chỉ có kinh nghiệm chữa bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận. Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy.
Những người có khuynh hướng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít người.Khuynh hướng h 6 thứ hai là những người có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những người này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là người phát minh ra thuốc. Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo”. Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000 năm nay). Vai trò của cây dược liệu Thuốc phòng bệnh và chữa bệnh hầu hết được điều trị từ hai nguồn dược liệu và hóa dược.
Riêng thảo dược, theo thống kê của tổ chức y tế thế giới con số lên đến 20. Không chỉ ở các nước Đông Nam Á mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng rất lớn dược liệu. Người ta thống kê thấy rằng ở các nước có nền công nghiệp phát triển thì 1/4 số thuốc thống kê trong các đơn thuốc đều có chữa hoạt chất từ thảo mộc, chỉ riêng ở Mỹ nắm 1980 giá trị số thuốc đo lên đến 8 tỉ USD. Trong những năm gần đây xu hướng trên thế giới dung thuốc thảo mộc tự nhiên (không tách hóa chất) ngày càng nhiều, chỉ tính thị trường Châu Âu cũng lên đến 2,3 tỉ USD, riêng cộng hòa liên bang Đức là 1,7 tỉ USD.
Nhiều loại thuốc đông dược của Trung Quốc được tiêu thị mạnh ở các nước Châu Âu.Gần đây ta cũng có một số mặt hàng đông dược xuất khẩu có tín nhiệm trên thị trường nước ngoài.