Đặt vấn đề Lúa là một cây lương thực quan trọng trên thế giới chỉ sau lúa mỳ, hơn 40% dân số trên thế giới sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Đặc biệt là các nước ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh. Trong cơ cấu sản xuất lương thực của thế giới lúa gạo chiếm tới 26. Ở Việt Nam, lúa là cây lương thực chính cung cấp cho toàn xã hội, cây lúa là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu cây lương thực cho nhân dân.
Lúa không chỉ đảm bảo lương thực cho người dân mà nó còn góp phần to lớn trong vai trò ổn định chính trị xã hội. [8] Trong những năm gần đây, nhờ có chính sách đổi mới của Đảng, sự nỗ lực vươn lên của người dân và sự đóng góp của các nhà khoa học mà ngành nông nghiệp nước ta có những bước phát triển nhảy vọt. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Huyện Định Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên,Việt Nam.
Huyện Định Hóa được biết tới với di tích quốc gia đặc biệt An Toàn Khu Định Hóa và canh tác nông nghiệp ở đây là chủ yếu. Trên địa bàn xã Lam Vỹ huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên sản phẩm nông nghiệp đa dạng và cây lúa chiếm phần lớn mang lại thu nhập cho hộ canh tác nông nghiệp. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng từ Trung Ương đến địa phương về chỉ đạo Dồn Điền Đổi Thửa từ nhiều ô thửa nhỏ thành một hoặc hai ô thửa lớn, tạo điều kiện cho việc sản xuất cũng như 2 áp dụng máy móc vào sản xuất. Vì vậy cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp được cải tạo, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển thuận lợi.
Nguồn kinh phí từ Trung ương – Địa phương dành cho tập huấn tuyên truyền chuyển giao khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp được diễn ra thường xuyên và liên tục. Vì vậy người dân đã dần thay đổi nhận thức và áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng đưa những giống lúa mới, có năng suất cao vào thực tiễn sản xuất. Vì vậy năng suất, sản lượng lúa trên địa bàn xã ngày càng tăng, có hiệu quả từ thực tế đến sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đội ngũ Cán bộ Trồng trọt – Bảo Vệ Thực Vật, Khuyến Nông Viên cơ sở bám sát đồng ruộng làm tốt công tác dự tính dự báo sâu bệnh qua các giai đoạn phát triển của cây lúa nên trong những năm qua năng suất lúa tăng rõ rệt và không có diện tích lúa bị thất thu do sâu bệnh sảy ra.
Tuy nhiên do các khu công nghiệp ở trong và ngoài tỉnh đã thu hút lượng lớn người lao động tham gia tại các nhà máy, xí nghiệp tạo thu nhập cao, ổn định. Người dân không mặn mà với nông nghiệp do lợi nhuận thu được từ sản xuất nông nghiệp rất thấp. Để phát huy vai trò và tiềm năng sản xuất lúa ở xã Đam Mỹ có hiệu quả cao hơn trong thời kỳ sự cạnh tranh với các ngành sản xuất khác, cần nắm rõ tình hình thực trạng, khắc phục một số khó khăn, áp dụng tiến bộ khoa học phù hợp vào sản xuất. Để ngành sản xuất lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần ổn định an ninh lương thực cần phải tìm ra nguyên nhân, giải pháp cụ thể.
Vì vậy để nền nông nghiệp xã Đam Mỹ phát triển cho năng xuất cao, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu cho người dân trong vùng, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mô hình sản xuất lúa tại xã Lam Vỹ huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên". Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại xã Lam Vỹ để thấy rõ những thuận lợi và khó khăn của địa phương từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng hiệu quả sản xuất cho người trồng lúa tại địa phương. Mục tiêu cụ thể - Thực tập tại xã Lam Vỹ để thu thập thông tin tình hình sản xuất nông nghiệp. - Thu thập số liệu báo cáo về thực trạng sản xuất lúa tại xã Đam Mỹ từ những năm 2016, 2017, 2018, 2019,2020 - Điều tra tình hình sản xuất các hộ trồng lúa vụ mùa năm 2020 tại xã Lam Vỹ.
- Xác định, phân tích, đánh giá được những thuận lợi, khó khăn sản xuất lúa và nguyên nhân. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các nông hộ trên địa bàn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các khái niệm liên quan.Khái niệm mô hình sản xuất.
- Mô hình sản xuất là sự mô tả bằng số học về quá trình sản xuất được dựa trên mức giá và sản lượng của đầu vào lẫn đầu ra 2. Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân. Khái niệm : - Khi nói đến hộ nông dân thì chắc hẳn ai cũng nghĩ đến đó là những hộ gia đình ở nông thôn họ kiếm kế sinh nhai chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, và đây cũng chính là đối tượng được nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nên có nhiều khái niệm về hộ nông dân khác nhau được đưa ra.
- Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng quan hệ huyết tộc, sống chung trong một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, cùng tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. - Theo như nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) thì ông lại cho rằng: “Hộ nông dân chính là một trong những tế bào của kinh tế - xã hội, là một hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đặc điểm : - Hộ nông dân vừa là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất và vừa là một đơn vị tiêu dùng. - Về quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng: Được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ một nền sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang nền sản xuất 5 hàng hóa.
Và trình độ này sẽ quyết định đến quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường. - Các hộ nông dân không chỉ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp mà các hộ nông dân còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với những mức độ khác nhau. - Trong sản xuất kinh doanh còn gặp rất nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan mà trong khi đó khả năng để khắc phục các loại rủi ro này lại rất là hạn chế. - Tư liệu sản xuất chủ yếu của hộ nông dân chủ yếu là ruộng đất, đối với hộ ruộng đất chính là nguồn lực để đảm bảo cuộc sống cho gia đình.
- Nguồn lao động chủ yếu của hộ là lao động trong gia đình. Khái niệm và đặc điểm của kinh tế hộ Khái niệm : Kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, có đất đai, tư liệu sản xuất, lao động (chủ yếu là lao động gia đình), tiền vốn để tiến hành sản xuất. Các quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là phụ thuộc vào chủ hộ. Được Nhà nước công nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển.
Đặc điểm : - Quy mô sản xuất nhỏ, do sản xuất với quy mô nhỏ nên số lượng hàng hóa được tạo ra của từng hộ là không lớn. - Tư liệu sản xuất không đầy đủ nên chất lượng của sản phẩm tạo ra cũng chưa cao. - Kinh tế hộ được đặc trưng bởi hình thức sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa với quy mô nhỏ, mức sống còn thấp. - Năng suất lao động thấp do lao động chủ yếu là chưa qua đào tạo.
6 - Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ sản xuất diễn ra chậm: việc chuyển sang các ngành phi nông nghiệp của các hộ sản xuất còn bị hạn chế, hộ thuần nông vẫn chiếm tỷ lệ lớn. - Về nhân lực: Sử dụng chủ yếu nguồn nhân lực tự có, đây là nguồn nhân lực huy động trong gia đình để tăng gia sản xuất. Một số hộ sản xuất với quy mô lớn có thể thuê thêm lao động bên ngoài (lao động thời vụ). - Về quy mô sản xuất: Thường sản xuất với quy mô nhỏ do điều kiện của hộ về nguồn vốn còn hạn chế, năng lực quản lý (ở đây đề cập đến trình độ của chủ hộ) còn thấp và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thấp.
- Khả năng quản lý của hộ còn nhiều hạn chế. Do việc quản lý chủ yếu chỉ dựa trên những kinh nghiệm tích lũy được, chưa qua đào tạo. - Nguồn vốn sản xuất: nguồn vốn còn hạn hẹp, nguồn vốn này chủ yếu có từ chính hộ sản xuất tích lũy được và vay mượn người thân. Tình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới.
- Trong suốt quá trình phát triển lịch sử, cây lúa hầu hết được trồng ở các châu lục. Cây lúa là một trong 5 loại cây lương thực chính của thế giới, là loại thực phẩm quan trọng cho > 50% số người dân trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có khoảng 114 nước trồng lúa phân bố trên tất cả các châu lục nhưng tập trung trồng nhiều nhất là ở châu Á. - Số liệu từ các tổ chức thế giới đều cho thấy sản lượng sản xuất và tiêu thụ gạo thế giới năm 2020 đều ghi nhận tăng trưởng.
Theo FAO, sản lượng sản xuất gạo thế giới năm 2020 đạt 508,4 triệu tấn, sản lượng tiêu thụ gạo năm 2020 đạt 510,3 triệu tấn, đều tăng 1,52% so với năm trước. - Trong năm 2020, dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến thương mại hàng hóa toàn cầu khi các chuỗi cung ứng bị gián đoạn, các biện pháp cách ly gây thiếu hụt lao động. Tình trạng giao hàng chậm đã từng bị ảnh 7 hưởng rất nghiêm trọng tại hai nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới là Ấn Độ và Thái Lan. - Lần đầu tiên sau ba thập kỷ, Trung Quốc, nước tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, đã phải mua gạo Ấn Độ trong tháng 12.
Bangladesh, nhà sản xuất gạo lớn thứ ba thế giới, cũng phải nhập khẩu gạo do giá nội địa tăng lên mức kỷ lục bởi nguồn cung khan hiếm. - Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng sản xuất gạo toàn cầu năm 2020 ước khoảng 501,1 triệu tấn, tăng 1,21% so với năm ngoái.