ĐẶT VẤN ĐỀ Luồng là cây lâm nghiệp bản địa nổi tiếng đã được gây trồng và sử dụng lâu đời trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Khu vực thích nghi của Luồng tập trung chủ yếu tại các huyện Bá thước, Ngọc Lặc, Lang chánh, Quan Hoá, Quan Sơn,. Với lợi thế dễ trồng, đầu tư ít, phù hợp với năng lực kinh tế và tập tục canh tác của đa số người dân nông thôn miền núi, trồng 1 lần có thể khai thác tới 40 - 50 năm, thậm chí hàng 100 năm, vì vậy cây Luồng đã và đang được gây trồng phổ biến trên nhiều điều kiện lập địa. Tính đến năm 2007, diện tích rừng Luồng toàn tỉnh Thanh Hóa đã đạt xấp xỉ 69.000 ha, chiếm 55,9% tổng diện tích rừng trồng trên toàn tỉnh (Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa, 2008) [7].
Trước đây, do giao thông đi lại khó khăn, giao lưu kinh tế giữa các vùng còn hạn chế, nhu cầu về Luồng còn ít, chủ yếu phục vụ cho xây dựng nhà cửa tại chỗ và cung cấp cho một số vùng lân cận bằng đường sông. Trong những năm gần đây, dưới tác động của cơ chế thị trường, giao thông thuận tiện đã tạo điều kiện cho việc thông thương hàng hóa cũng như phát triển các ngành chế biến, nhờ đó mà vị trí của cây Luồng cũng được nâng lên. Đến cuối năm 2007, toàn tỉnh Thanh Hóa đã có 27 cơ sở chuyên sản xuất, chế biến các mặt hàng từ Luồng, tiêu thụ khoảng 10,8 triệu cây Luồng, chiếm 71,5% sản lượng Luồng thương phẩm của cả tỉnh, chủ yếu là chế biến đũa, tăm, mành, ván sàn,… (Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa, 2008) [7]. Đặc biệt trong giai đoạn sắp tới, khi nhà máy bột giấy và giấy Thanh Hóa chính thức hoạt động (dự kiến cuối năm 2010) thì nhu cầu nguyên liệu từ cây Luồng ngày càng tăng cao.
Do đó việc phát triển kinh doanh rừng Luồng bền vững là một thách thức khó khăn đối với tỉnh Thanh Hóa. Thực tế hiện nay cho thấy, phần lớn diện tích rừng Luồng tại Thanh Hóa đang được trồng thuần loài, quảng canh (chiếm khoảng 90%) diện tích rừng Luồng toàn tỉnh (Chi cục lâm nghiệp Thanh Hóa, 2008) [7]. Với nhu cầu về Luồng ngày càng cao, trong khi các biện pháp kinh doanh rừng Luồng vấn còn lạc hậu, chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong kinh doanh rừng và hậu quả đã làm cho rừng Luồng ở Thanh Hóa đang bị thoái hóa nghiêm trọng. Ghi nhận đến thời điểm hiện nay, trên c 2 địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xuất hiện 26 loài sâu và 3 loại bệnh hại Luồng; trong đó một số loại bệnh mới xuất hiện rộng rãi nhưng chưa tìm ra cách chữa như bệnh Sọc tím măng Luồng, bệnh khô héo lá Luồng do vi khuẩn,… Chất lượng rừng Luồng cũng giảm sút nghiêm trọng, nhiều nơi rừng chỉ còn 1 - 2 thế hệ, bình quân chỉ có 3-4 cây/bụi, mật độ cây/ha chỉ còn 80 - 150 bụi/ha, tỷ lệ rừng Luồng bị suy thoái chiếm tới 80% diện tích Luồng hiện có.
Chính vì vậy, đời sống của một bộ phận người dân miền núi chủ yếu sống bằng nghề rừng còn gặp nhiều khó khăn. Để hạn chế sự suy giảm năng suất cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng Luồng, trong những năm gần đây người dân tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật để phục tráng rừng Luồng như: bón phân, vệ sinh rừng, chăm sóc, trồng rừng Luồng theo phương thức hỗn giao với các cây trồng khác như: các loài Keo, Trám trắng, Lát hoa, Xoan ta,… tạo điều kiện cho cây Luồng sinh trưởng phát triển tốt hơn, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Chính vì vậy mà số lượng các mô hình cũng như biện pháp kỹ thuật trồng Luồng ở Thanh Hóa ngày càng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, cho đến nay vấn chưa có những công trình nghiên cứu về tổng kết, đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật đã và đang áp dụng cho rừng Luồng ở Thanh Hóa, đặc biệt là trong thời điểm gần đây, khi mà số lượng mô hình và biện pháp kỹ thuật trồng Luồng ngày càng phong phú và đa dạng thì các mô hình và biện pháp kỹ thuật có triển vọng cũng mới chỉ được người dân xung quanh các vùng dự án biết đến và áp dụng.
Vì vậy để đưa ra một giải pháp kỹ thuật phù hợp cho việc gây trồng và phát triển bền vững rừng Luồng, qua đó để phổ biến rộng rãi cho người dân trồng Luồng ở Thanh Hóa là rất khó khăn. Trước thực tiễn đó, đề tài “Đánh giá các mô hình và biện pháp kỹ thuật trồng Luồng (Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Li) làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển” là rất quan trọng, qua đó có thể hệ thống lại những biện pháp kỹ thuật trồng Luồng đã và đang được áp dụng, ưu nhược điểm của từng biện pháp cũng như hiệu quả kinh tế của các mô hình,… từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp cho gây trồng và phát triển kinh doanh bền vững rừng Luồng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Không những với người dân Việt Nam, cây Luồng cũng là loài cây thân thuộc đối với người dân một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Kenya vv. Luồng không những được sử dụng làm vật liệu trong công nghiệp chế biến giấy, ván sàn, trong xây dựng nhà cửa, làm đồ gia dụng mà còn được sử dụng chế biến những món ăn ưa thích.
Chính vì vậy, những nghiên cứu về cây Luồng đã được quan tâm từ rất sớm và ở nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến các biện pháp lâm sinh trong kinh doanh và phát triển rừng Luồng. Sau đây chúng tôi xin tóm lược một số kết quả đã nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến vấn đề này. Trên thế giới Các loài thuộc họ phụ tre trúc (Bambusoideace) phân bố tập trung ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới.
Riêng ở Châu Á chiếm 80% phân bố chủ yếu ở các quốc gia Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Philipin, Kenya vv. Trong số 75 chi, với hơn 1250 loài khác nhau phân bố trên thế giới thì riêng Trung Quốc là nước có nguồn tài nguyên phong phú nhất thế giới với 40 chi, khoảng 400 loài; Ấn Độ có 136 loài, Philipin có 55 loài. Luồng có tên khoa học là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Là loài Tre mọc cụm (kiểu hợp trục, búi, khóm,…) thuộc họ phụ Tre trúc (Bambusoideae), bộ hòa thảo (Graminaler).
Luồng ưa sáng, mọc nhanh, thích hợp khí hậu nóng ẩm vùng nhiệt đới có hai mùa rõ rệt. Sinh trưởng, phát triển tốt trên đất còn tính chất đất rừng, tầng dày, xốp, ẩm, đất ven sông suối, chân và sườn đồi, không ngập úng. Những nghiên cứu về loài cây này trên thế giới được tiến hành từ rất sớm và đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều mặt khác nhau. Nghiên cứu về gây tạo giống Luồng Luồng phần lớn được nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng.
Việc nhân giống sinh dưỡng có thể sử dụng chồi, gốc, đốt làm vật liệu nhân giống. Khi dùng đoạn thân ngắn để tạo cây con, nên chọn thân cây có độ tuổi từ 2-3 năm; cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm vật liệu, đục lỗ cách các mắt từ 5-7cm, sau đó vùi sâu 6 c 4 - 10 cm theo hướng nằm ngang vào đất trộn cát (Bernard Kingomo, 2007) [24]. Để kích thích ra rễ có thể dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục. Trong trường hợp dùng gốc để trồng thì nên chọn cây có độ tuổi 1-2 năm, đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay.
Cũng có thể dùng phương pháp nuôi cấy mô để tạo giống Tre, Luồng. Tại Kenya đã thành công nhân giống các loài Yushania alpina và Oxytenanthera abyssinica bằng phương pháp nuôi cấy mô (Bernard Kingomo, 2007) [24]. Để tạo cây con bằng phương pháp nuôi cấy mô, Verma and Arya (1998) [28] đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây Dendrocalamus asper nuôi cấy mô, một số tác giả đã kết luận, sau 12 tháng thí nghiệm, thành phần ruột bầu với tỷ lệ cát : đất = 1:1 (về thể tích) làm giảm khả năng ra rễ và hàm lượng P trong rễ. Trong khi ở các thí nghiệm bón bổ sung phân hữu cơ thì các chỉ tiêu nghiên cứu như chiều cao, sinh khối khô và khả năng ra rễ của Dendrocalamus asper đều tốt hơn.
Ngoài nhân giống sinh dưỡng, một số nơi cũng đã thử nghiệm nhân giống Tre, Luồng bằng hạt với một số loài như: Dendrocalamus brandisii (Thái Lan, Ấn Độ), Dendrocalamus membranaceus (Thái Lan), Dendrocalamus strictus (Thái Lan, Ấn Độ) vv. Tuy nhiên do hạn chế về nguồn giống cũng như khả năng nảy mầm khó nên phương pháp này ít được sử dụng. Nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác Luồng + Chọn lập địa: Thông thường Tre, Luồng thường ưa thích các loại đất sét và sét pha cát. Tuy nhiên, dù loại đất nào thì cũng phải thoát nước tốt vì măng Tre, Luồng không chịu được ngập nước, độ pH thích hợp cho Tre, Luồng từ 4,5 - 6 (Bernard Kingomo, 2007) [24].
Theo Dai Qihui (1998) [25] nên chọn nơi có độ dày tầng đất cao, đất còn tốt, thoát nước tốt, ẩm. Nên trồng ở các thung lũng, dọc bờ sông, suối, cũng có thể trồng ở chân và sườn đồi. Nếu trồng nơi đất khô, xấu thì Tre, Luồng có thể sống nhưng măng, thân sẽ nhỏ và mang lại hiệu quả kinh tế kém. + Xử lý thực bì và chuẩn bị đất trồng: Trước khi làm đất nên xử lý thực bì bằng cách phát dọn cỏ, cây bụi.
Kích thước hố đào thường là 60 cm x 60 cm x 60 c 5 cm. Nơi có lượng mưa trung bình thấp thì nên đào hố to hơn so với nơi có lượng mưa cao. Hố sau khi đào được lấp đầy cách miệng hố 10 cm, có thể trộn 2 kg lân hoặc phân chuồng mỗi hố. Đất được lấp 1 tháng trước khi trồng [24].
Theo Dai Qihui (1998) [25] có 3 phương pháp làm đất thường được áp dụng là: 1) Làm đất toàn diện (cuốc đất sâu 20 cm, sau đó đào hố theo kích thước và cự ly theo thiết kế); 2) Làm đất theo băng (cày đất theo băng có chiều rộng 1-2 m và sâu 20 cm, cự ly giữa các băng cày 1 - 2 m); 3) Làm đất cục bộ theo hố (đào các hố theo cự ly mong muốn, kích thước hố chiều dài x chiều rộng x chiều sâu là 50cm x 50cm x 40cm hoặc 100cm x 50cm x 40cm).