Luận văn đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sinh hoạt nhà tiêu tại quận thanh xuân hà nội và huyện châu giang hưng yên năm 1998

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sinh hoạt nhà tiêu tại, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Cán Bộ Quản Lý Y Tế

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Thạc Sĩ

1998

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình trạng quản lý phân người

1.2. Tình trạng cung cấp nước sạch trên Thế giới và Việt Nam

1.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm đất, nước tới sức khoẻ con người

1.4. Một số nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về môi trường - sức khoẻ

1.5. Một số phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình trạng sử dụng nhà tiêu ở các hộ gia đình nông thôn - thành thị

3.2. Các loại nhà tiêu đang sử dụng

3.3. Khả năng gây ô nhiễm do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh

3.4. Tình trạng sử dụng nguồn nước

3.5. Các loại nguồn nước sử dụng cho ăn uống tắm rửa tại các hộ gia đình

3.6. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước

3.7. Điều kiện về kinh tế, học vấn của chủ hộ với tình trạng sử dụng nguồn nước, nhà tiêu

3.8. Kiến thức, thái độ của người dân về sức khoẻ - môi trường

3.9. Hoạt động GDSK tác động đến tình trạng VSMT của các hộ gia đình ở nông thôn - thành thị

4. CHƯƠNG 4: TÌNH TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG Ở CÁC HỘ GIA ĐÌNH TẠI THANH XUÂN - CHÂU GIANG

4.1. Tình trạng sử dụng nhà tiêu ở các hộ gia đình

4.2. Tình trạng sử dụng nguồn nước

4.3. Điều kiện kinh tế, học vấn tác động đến tình trạng sử dụng nhà tiêu - nguồn nước

4.4. Kiến thức, thái độ của người dân về môi trường - sức khoẻ

4.5. Hoạt động GDSK tác động đến tình trạng VSMT của các hộ gia đình

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiến Thức và Thái Độ Về Nguồn Nước Sinh Hoạt

Nước sinh hoạt là một yếu tố thiết yếu cho sức khỏe và sự phát triển của con người. Tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang, việc đánh giá kiến thức về nguồn nướcthái độ đối với nguồn nước sinh hoạt là rất quan trọng. Nghiên cứu này nhằm mục đích hiểu rõ hơn về nhận thức của người dân về chất lượng nước và các vấn đề liên quan đến sức khỏe. Việc này không chỉ giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường mà còn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống.

1.1. Tình Trạng Kiến Thức Về Nguồn Nước Sinh Hoạt

Nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức về nguồn nước sinh hoạt của người dân tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang còn hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng nước sạch và an toàn. Điều này dẫn đến việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, gây ra nhiều bệnh tật liên quan đến nước.

1.2. Thái Độ Đối Với Nguồn Nước Sinh Hoạt

Thái độ của người dân đối với nguồn nước sinh hoạt cũng phản ánh sự thiếu hiểu biết về các vấn đề môi trường. Nhiều người vẫn có thói quen sử dụng nước bẩn mà không biết rằng điều này có thể gây hại cho sức khỏe. Việc nâng cao thái độ bảo vệ nguồn nước là cần thiết để giảm thiểu các rủi ro sức khỏe.

II. Vấn Đề Ô Nhiễm Nguồn Nước Tại Quận Thanh Xuân và Huyện Châu Giang

Ô nhiễm nguồn nước là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay. Tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang, tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt đang ở mức báo động. Nguồn nước bị ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động đến môi trường sống. Việc đánh giá tình trạng ô nhiễm là cần thiết để có biện pháp khắc phục kịp thời.

2.1. Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang bao gồm việc xả thải không kiểm soát từ các hộ gia đình và cơ sở sản xuất. Ngoài ra, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước.

2.2. Tác Động Của Ô Nhiễm Nguồn Nước Đến Sức Khỏe

Ô nhiễm nguồn nước có thể gây ra nhiều bệnh tật, đặc biệt là các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh do nước bẩn tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang đang gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

III. Phương Pháp Đánh Giá Kiến Thức và Thái Độ Về Nguồn Nước

Để đánh giá kiến thức và thái độ của người dân về nguồn nước sinh hoạt, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ giúp thu thập thông tin mà còn tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình nghiên cứu.

3.1. Phương Pháp Khảo Sát

Khảo sát được thực hiện thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp. Các câu hỏi tập trung vào kiến thức về nguồn nướcthái độ đối với nước sinh hoạt. Kết quả khảo sát sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về nhận thức của người dân.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định mối quan hệ giữa kiến thứcthái độ của người dân đối với nguồn nước. Phân tích này sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho các chương trình giáo dục sức khỏe.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Kiến Thức và Thái Độ

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức về nguồn nước sinh hoạt của người dân tại quận Thanh Xuân và huyện Châu Giang còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, thái độ của người dân đối với việc bảo vệ nguồn nước đang dần được cải thiện. Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai mạnh mẽ hơn để nâng cao nhận thức.

4.1. Tình Hình Kiến Thức Về Nguồn Nước

Kết quả cho thấy chỉ có một phần nhỏ người dân hiểu rõ về các vấn đề liên quan đến chất lượng nước. Nhiều người vẫn chưa biết cách phân biệt nước sạch và nước bẩn, dẫn đến việc sử dụng nước không an toàn.

4.2. Thái Độ Đối Với Bảo Vệ Nguồn Nước

Mặc dù kiến thức còn hạn chế, nhưng thái độ của người dân đối với việc bảo vệ nguồn nước đang có sự chuyển biến tích cực. Nhiều người đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường và nâng cao ý thức về nguồn nước sinh hoạt.

V. Kết Luận và Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao kiến thức và thái độ về nguồn nước sinh hoạt là rất cần thiết. Các giải pháp giáo dục sức khỏe cần được triển khai để cải thiện tình trạng này. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để bảo vệ nguồn nước và nâng cao chất lượng cuộc sống.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Giáo Dục

Cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe về nguồn nước sinh hoạt cho người dân. Các hoạt động này nên được tổ chức thường xuyên và đa dạng để thu hút sự tham gia của cộng đồng.

5.2. Tăng Cường Quản Lý Nguồn Nước

Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn đối với nguồn nước sinh hoạt. Việc kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng.

14/07/2025
Luận văn đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sinh hoạt nhà tiêu tại quận thanh xuân hà nội và huyện châu giang hưng yên năm 1998

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tinh trạng quản lý phàn người Vệ sinh môi trường của các nước đang phát triển hiện nay có một vấn đề rất nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm môi trường do phân người, phân súc vật. Việc ô nhiễm phân người, súc vật do hai yếu tố: - Tập quán quản lý phân. Thói quen sử dụng các loại nhà tiêu không h ợp v ệ sinh làm cho phân người bị rơi vãi ra ngoài, do súc vật nuôi, ruồi,.

mang đi reo rắc khắp nơi. - Tập quán sử dụng phân để bón ruộng, nuôi cá: Người dân sử dụng phân t ươi, phân ủ nhưng không làm theo đúng qui cách và không đ ảm b ảo th ời gian t ối thi ểu do thiếu phân bón ruộng nên các tác nhân gây bệnh chưa bị tiêu diệt hết. Mầm bệnh từ trong phân người mà trong quá trình quản lý, sử dụng không đ ảm bảo vệ sinh đã phát tán ra đất, không khí và các nguồn nước. Phân người là nguồn chứa đủ loại mầm bệnh truyền nhiễm đường ruột, từ những vi khuẩn đường một gây bệnh như tả, lỵ, thương hàn.

đến siêu vi khuẩn đường ruột, đơn bào đường ruột và nhất là trứng giun sán. Chúng có thể sống nhiều ngày trong đất, nước, thậm chí nhiều tháng như trứng giun sán, để rồi từ đất, nước thải làm nhiễm cây trồng đặc biệt là rau, củ ăn sống. Đường lây lan các mầm bệnh trong phân người sang người có thể qua tay bẩn, mồi, nước bị ô nhiễm, chất thải rắn, đất , thực phẩm. Đứng về mặt dịch t ễ học các b ệnh truy ền nhiễm đường một, phàn rác, đất nước, cùng thực phẩm đã là những khâu đế hình thành một chu kỳ dịch tễ [41], Để phòng chống các loại bệnh truyền nhi ễm đ ường ru ột chúng ta cần cắt đứt chu kỳ dịch tễ của các mầm bệnh bằng các c ống trình h ợp v ệ sinh, đi đôi với việc giáo dục các hành vi có 4 lợi cho sức khoẻ là những giải pháp có hiệu lực nhằm tiêu diệt các mầm bệnh không cho chúng phát tán ra ngoại cảnh và bảo vệ được môi trường là đất và nước.

Quản lý phân người tốt nhất là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt nam cũng như điều kiện canh tác của ngành nông nghiệp thì bất kể loại công trình vệ sinh nào cũng nhằm giải quyết hai mục tiêu cơ bản là: - Diệt trừ mầm bệnh để không cho nó phát tán ra ngoài. - Biến chất thải bỏ (đặc và lỏng) thành phân bón hữu cơ để tăng mầu mỡ cho đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và an toàn khi dùng. Đáp ứng và bảo đảm hai mục tiêu trên, công trình vệ sinh ph ải đạt đ ược nh ững yêu cầu: không làm nhiễm bấn đất và nguồn nước tại nơi xây dựng, không có mùi hôi thối, không thu hút côn trùng và gia súc, tạo điều kiện để phân, chất thải b ị phân huỷ và hết mầm bệnh, thuận tiện khi sử dụng, nhất là đối với trẻ em, được nhân dân chấp nhận và phù hợp với điều kiên của địa phương [41].

Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 80% dân số sống ở vùng nông thôn, việc sử dụng phân bắc trong nông nghiệp đã là một tập quán từ lâu đời. Trung bình m ột ng ười trong một năm thải ra 48,5 kg phân, nếu được xử lý theo đúng qui cách vệ sinh thì vừa có ý nghĩa phòng bệnh, chống ô nhiễm môi trường, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế [19]. Từ năm 1960 dưới sự chỉ đạo của Cố bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, chiêh lược vệ sinh môi trường được đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết phân người bằng nhà tiêu hai ngãn: kín, khô sạch, đi một bên, ủ một bên trong 2, 3 tháng và ch ương trình cung c ấp nuớc sạch bằng giếng khơi. Cao trào vận động xây dựng ba công trình vệ sinh đã làm cho bộ mặt nông thôn Việt nam đổi mới.

Các bệnh gây ra do phân người do nước bẩn đã giảm đi rõ rệt. Kỹ thuật xử lý 5 phân bằng nhà tiêu hai ngăn ở Việt nam đã được tổ chức ytế thế giới - Ngân hàng thế giới xuất bản năm 1980. Sau năm 1980, nhà tiêu hai ngăn không còn phát huy được tác dụng do nhiều thiếu sót về cấu tạo và thay đổi ngoại cảnh: thiếu chất độn nên gây mùi thối, nhiều ruồi nhặng, phân trong hố không được ủ kỹ đúng 3 tháng, không có nắp đậy, cửa lấy phân không trát kín. đó là những nguyên nhân gây mất vệ sinh [33], mặt khác nhà tiêu hai ngăn còn thuận lợi cho việc khai thác phân tươi hoặc ủ phân chưa đạt yêu cầu đã lấy ra sử dụng nuôi trồng trong nông nghiệp gây nên sự ô nhiễm môi trường [4].

Một nghiên cứu tại Hà Nam Ninh cho thấy 98% nhà tiêu hai ngăn hở, ít chất độn, 100% không ủ phân, có rất nhiều ruồi nhặng [9]. Nhà tiêu hai ngăn nếu được xây dựng đúng kỹ thuật và sử dụng, bảo quản đảm bảo vệ sinh thì rất tốt, sẽ phát huy tác động về mặt vệ sinh dịch tê và đáp ứng được mục tiêu: Diệt được mầm bệnh, không làm nhiễm bẩn môi trường xung quanh (đất, nước, không khí), có được loại phân bón hữu cơ an toàn khi sử dụng. Trong những năm gần đây, chúng ta đã bắt đầu làm quen với cụm từ nhà tiêu thấm dội nước. Loại nhà tiêu thấm dội nước kiểu Sulabh theo mẫu của Ân độ được UNICEF khuyến cáo.

Loại nhà tiêu này có ưu điểm không gây ô nhiễm không khí vì không có mùi hôi, côn trùng, ruồi nhặng không phát triển được. Nhờ quá trình sinh học và tự làm sạch của đất, phần lớn vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng sẽ bị tiêu diệt, chất thải có thể sử dụng làm phân bón, loại nhà tiêu này có thể xây dựng gần nhà thuận tiện cho người già, phụ nữ và trẻ em, bên cạnh đó cũng có nhược điểm là dễ gây ô nhiễm đất và nguồn nước nên khi tiến hành xây dựng phải có những qui định th ật c ụ th ể, nh ất là v ề kho ảng cách phải xa nguồn nước trên 8m. Tính đến hết nãm 1991 đã triển khai ở 23 t ỉnh thành, 130 huyện, 474 xã với 40. Ngoài một số kiểu nhà tiêu vẫn còn đang phổ biến như hố cầu, thùng không đảm bảo vệ sinh, vẫn đang phát triển một số loại khác như: nhà tiêu bán tự hoại, nhà tiêu thấm dội nước cải tiến, đặc biệt nhà tiêu tự hoại cũng được xây dựng và sử 6 dụng ở nhiều nơi trong đó có cả vùng nông thôn.

Tuy nhiên giá thành để xây dựng loại nhà tiêu này còn đắt nên tỷ lệ xây dựng so với các loại khác còn thấp [13]. Hiện nay việc quản lý phân người ở nước ta chưa tốt, tỷ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của các hộ gia đình còn thấp, vẫn còn một số hộ gia đình chưa có nhà tiêu. Một trong các vấn đề cấp bách về sức khoẻ môi trường là tình trạng VSMT yếu kém. Theo điều tra mới đây, trung bình ở vùng nông thôn chỉ có 20% gia đình là có nhà tiêu hợp vệ sinh [38].

Theo thống kê của Bộ Ytế thì mới chỉ có 56% (tương đương 40 triệu dân) hộ gia đình có nhà tiêu [12]. Theo số liệu thống kê Ytế Việt nam (1993- 1996) tỷ lệ % dân số có nhà tiêu hợp vệ sinh là: Thành thị 1996: 53%; Nông thôn 1996: 25%. Qua điều tra của trung tâm nhân lực Bộ Ytế, trung tâm máy tính trường Đại học xây dựng tiến hành tại 18 xã 7 tỉnh cho thấy: Tỷ lệ có nhà tiêu trung bình là 70%, trong đó: nhà tiêu cầu cá: 16,43%; nhà tiêu chuồng tro: 26,66%; nhà tiêu hai ngăn: 17,22%; nhà tiêu đào: 9,69%. Tỷ lệ không có nhà tiêu là 30%, trong đó: đi đại tiện ngoài đổng: 7,3%; đại tiện nhà tiêu công cộng: 4,7% [33].

Tại thị trâh Yên Bái có tới 31% số hộ không có nhà tiêu [20]. Ở 5 phường nội thị, thị xã Bắc Ninh 20% hộ không có nhà tiêu, 40% hộ sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh [47]. Theo Sở Khoa học Công nghệ - Môi trường (KHCN - MT) tỉnh Hà Tây: ở nông thôn có 45% nhà tiêu được coi là hợp vệ sinh, số hộ còn lại thì nặng tập tục cũ, phóng uế bừa bãi; còn ở khu vực dân cư đô thị chỉ có 35 - 38% nhà tiêu hợp vệ sinh, số còn lại xả phân trực tiếp vào cống rãnh thoát nước [30].437 hộ tại 7 xã tỉnh Thái Bình cho thấy: t ỷ l ệ nhà tiêu hai ngăn h ợp v ệ sinh là 4%, nhà tiêu cầu 82% [13]. Trong 3 xã ở Hà Tây: 28% hộ không có nhà tiêu, 63% hộ có nhà tiêu không hợp vệ sinh [6].

Ở đồng bằng 7 sông Cửu long chỉ có khoảng 1/2 số gia đình có cầu tiêu, trong đó 65% là cầu tiêu ao cá thông với kênh rạch, 3% là cầu tiêu“ bể cá” và cầu tiêu công cộng được đặt trực tiếp lên sông rạch [36]. Tại Quảng Nam - Đà Nẩng trong số nhà tiêu có 37% hợp vệ sinh, số còn lại phải cải tạo sửa chữa mới sử dụng được [18]. Theo kết quả điều tra VSMT ở xã C ẩm S ơn - c ẩm Bình - Hải Hưng: tỷ lệ hộ có nhà tiêu 98%, không có nhà tiêu 2%, trong đó nhà tiêu hai ngăn: 47%, nhà tiêu một ngăn 47%; cầu, thùng: 4%; nhà tiêu đạt tiêu chu ẩn v ệ sinh: 12,6% [21]. Theo kết quả điều tra ở tỉnh Khánh Hoà: nhân dân đang sử dụng loại nhà tiêu t ự hoại 25,41%, thấm dội nước 1,65%, nhà tiêu chìm thấm khô 13,25%, nhà tiêu t ự ho ại công cộng 0,6%, trên sông biển 12,3%, hố đào vườn và hai ngăn 36,6%.

Toàn tỉnh có 51,1% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, còn 48,9% là không hợp vệ sinh[32]. Một trong những vấn đề khó khăn nhất của nền văn minh hiện đại là làm sao để xử lý phân người. Mặc dù các chính phủ và các cơ quan tài trợ đã có những cố gắng đáng kể nhưng số các gia đình thiếu công trình vệ sinh thích họp vẫn tăng lên. Hiện nay còn gần 2 tỷ người còn chưa có nhà tiêu.

Bước sang thế kỷ mới con số đó là 3 tỷ người (WHO 1992). Vấn đề này đặc biệt nóng bỏng ở thế giới thứ 3, nơi mà có khoảng 30% đến 60% dân cư sống trong những vùng gọi là ven đô thường không tiếp cận được với các dịch vụ đô thị cơ bản (UNOWINBLAD-1993).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Kiến Thức và Thái Độ Về Nguồn Nước Sinh Hoạt Tại Quận Thanh Xuân và Huyện Châu Giang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và thái độ của người dân đối với nguồn nước sinh hoạt tại hai khu vực này. Nghiên cứu không chỉ đánh giá kiến thức hiện tại mà còn chỉ ra những vấn đề cần cải thiện trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn nước ngày càng trở nên khan hiếm và ô nhiễm.

Bằng cách hiểu rõ hơn về kiến thức và thái độ của cộng đồng, tài liệu này giúp các nhà quản lý và các tổ chức liên quan có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn để nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng nước sinh hoạt. Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan như Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường tại xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng nước tại một xã khác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực tại trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn cũng sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của nguồn nhân lực trong việc quản lý và bảo vệ nguồn nước. Cuối cùng, tài liệu Luận văn đánh giá thực trạng và kiến thức thái độ thực hành của dân về sử dụng nguồn nước sinh hoạt tại huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh sẽ cung cấp thêm thông tin về thái độ và thực hành của người dân ở một khu vực khác, từ đó mở rộng hiểu biết cho độc giả về vấn đề này.