Mở đầu Giới thiệu và trình bày đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan Mô tả tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện và tổng quan về địa bàn nghiên cứu tỉnh Bình Phước (đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội.) Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Nêu các lý thuyết liên quan làm cơ sở dé giải thích nội dung nghiên cứu. và đưa ra các phương pháp nghiên cứu đề tiến hành nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận Đây là phần chính của đề tài nhằm nêu ra kết quả nghiên cứu, làm rõ vấn đề nghiên cứu, bằng các phương pháp đã học và lựa chọn đề nghiên cứu.
Trình bày các đặc điểm của nông hộ điều tra như quy mô nhân khẩu, kinh nghiệm, cách canh tác, cách tiếp cận và sử dụng khoa học kỹ thuật đề tông hợp phân tích và xử lý thông tin. Chương 5: Kết luận và đề xuất Trình bày các kết quả nghiên cứu chính đạt được và ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu đó. Từ đó đề ra các kiến nghị có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm cải thiện khả năng thích ứng với hạn hán của nộng hộ trồng Hồ tiêu. CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN 2.
Tông quan về tài liệu nghiên cứu Nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu vấn đề và viết luận văn, những bài viết có liên quan đến khả năng thích ứng trong nông nghiệp trên các trang tạp chí kinh tế, khoa học chính thống dưới đây được tông hợp và tham khảo nhằm làm cơ sở kiến thức dé thực hiện nghiên cứu khóa luận: Võ Thành Danh (2015) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá năng lực thích nghi đối với xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng ven biển tinh Trà Vinh. Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là trình bày mức độ thích nghi ở cả hai cấp độ nông hộ va cộng đồng đối với xâm nhập mặn gây ra cho sản xuất nông nghiệp tại ba huyện ven biển: Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú của tỉnh Trà Vinh. Sử dụng số liệu điều tra từ 1.814 hộ sản xuất lúa, màu và nuôi trồng thủy sản theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Đề đo lường khả năng thích nghỉ của cộng đồng, đề tài sử dụng hai chỉ số: chỉ số thích nghi cấp độ nông hộ (HAC]) và chỉ số thích nghỉ cấp độ cộng đồng (CACI).
Kết quả tính toán cho thấy khả năng thích nghi của nông hộ đối với xâm nhập mặn ở mức trung bình. Khả năng thích nghỉ của nông hộ ở hai huyện Cầu Ngang và Trà Cú cao hơn so với huyện Duyên Hải. Điều này được giải thích là do ảnh hưởng của yéu tố kinh tế - xã hội lớn hơn nhiều so với các yếu tố khác như các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên. Đối với khả năng thích nghi cập độ cộng đồng, các yếu tố xã hội, thực địa và tự nhiên góp phần làm tăng khả năng thích nghi trong khi các yếu tố kinh tế và định chế làm giảm năng lực thích nghỉ của cộng đồng.
Kết qua phân tích hồi quy cũng cho thấy quy mô diện tích canh tác, giới tính của chủ hộ và trình độ học vân của chủ họ là những yêu tố tac động đến khả năng thích nghi của nông hộ. Nguyễn Thị Hảo và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá khả năng thích ứng với biến đôi khí hậu cấp hộ gia đình tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu điều tra về hiện trạng tác động của biến đổi khí hậu và khảo sát cộng đồng được hiện tai 11 xã thuộc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trung bình mỗi xã có 25 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm từ danh sách quản lý hộ khẩu của xã.
Phương pháp phỏng van được tiến hành dựa vào phiếu điều tra. Xây dựng bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng cấp hộ gia đình gồm 31 chỉ số của các hợp phần: con người, kinh tế, sinh kế, xã hội, khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng và quản số của các giá trị cho huyện Hòa Vang. Kết quả áp dụng bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho thấy mức độ nhận thức, kỹ năng và kinh nghiệm thích ứng với biến đổi khí hậu của các hộ gia đình ở huyện Hòa Vang vẫn còn thấp. Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng, sinh kế và quản tri lầ các yếu tô chi phối khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cấp gia đình.
Chi số khả năng thích ứng của các xã trong huyện Hòa Vang tương đối đồng đều từ 0,521 — 0,584, cao nhất tại xã Hòa Khương và thấp nhất tại xã Hòa Bắc. Bộ chỉ số khả năng thích ứng, các quy trình và phương pháp đánh giá sử dụng trong bài báo có thê được mở rộng áp dụng có các khu vực khác của Việt Nam. Trương Thị Tư (2016) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu Đánh giá khả năng thích ứng với biến đối khí hậu của một số mô hình sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng ven biển huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Họ đã khảo sát và đánh giá hiệu quả một số mô hình sản xuất nông nghiệp đang tồn tại trên lãnh thổ nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá, phân hạng thích nghỉ các mô hình, và đề xuất một số mô hình sản xuất tối ưu, thích ứng với BĐKH.
Kết quả nghiên cứu với 5 mô hình sản xuất thích ứng với BĐKH hiện có trên địa bàn gồm: lúa - dưa hấu, lúa Đông Xuân - Hè Thu cực ngắn ngày, lúa - cá, trồng rau che giàn, nông - lâm kết hợp, kết quả đánh giá mức độ thích ứng cho thấy: mô hình lúa - dưa hấu không thích ứng, các mô hình còn lại thích ứng với BĐKH nhưng ở các mức độ độ khác nhau. Trong đó, thích ứng cao nhất là mô hình nông - lâm kết hợp, còn các mô hình trông rau che giàn, lúa - cá, lúa Đông Xuân - Hè Thu cực ngăn ngày, nếu áp dụng với một số biện pháp kỹ thuật cải tiễn, sẽ giúp hoàn thiện mô hình nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH. Theo Đặng Thị Hoa và Quyền Đình Hòa (2016) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu Thich ứng với biến đổi khí hậu của người dân nuôi trồng thủy sản vùng ven biển tỉnh Nam Định. Họ tiến hành khảo sát và đánh giá 85 hộ nuôi trồng thủy sản nước ngọt phân chia theo quy mô thì BDKH có ảnh hưởng rat lớn đến các hộ có quy mô lớn (52,63%), quy mô vừa (46,15%) và ảnh hưởng trung bình là sự đánh giá của các hộ có quy mô nhỏ (40,74%), trung bình có tới 41,18% số hộ điều tra cho rằng BDKH có ảnh hưởng rất lớn đến nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chỉ có (4,71%) số hộ cho rằng BDKH có ảnh hưởng ở mức độ ít tới nuôi trồng thủy sản nước ngọt.
Đối với nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ họ tiến hành khảo sát và đánh giá 79 hộ phân chia theo thu nhập, kết quả cho thấy: các hộ cho rằng trung bình BDKH ảnh hưởng lớn (43,04%) ảnh hưởng rất lớn (34,18%) đến nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ, trong đó các hộ nghèo lại đánh giá mức độ ảnh hưởng của BDKH ở mức thấp hơn so với trung bình và hộ giàu. Theo Trần Hoài Nam và Nguyễn Thị Thu Hà (2017) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu Đánh giá khả năng thích ứng của nông hộ đối với xâm ngập mặn tại Cù Lao Dài, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp phân tích chỉ số thích nghi cấp độ nông hộ (HACT) dé đánh giá khả năng thích ứng với xâm ngập mặn của nông hộ. Đồng thời, phân tích các yếu tô ảnh hưởng đến khả năng thích ứng đối với xâm ngập mặn bằng phương pháp ước lượng OLS.
Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 150 hộ trên địa bàn Cù Lao Dài, huyện Vũng Liêm. Kêt quả nghiên cứu cho thấy, khả năng thích ứng của nông hộ đạt được là 0.58 điều này có nghĩa là dưới tác động của xâm ngập mặn thì kha năng thích ứng của nông hộ nằm ở mức thích ứng trung bình. Khả năng thích ứng thích ứng với xâm ngập mặn của nông hộ chịu ảnh hưởng của các biến trình độ học vấn, tuôi, giới tính, thu nhập và khoảng cách. Lê Thị Hoa Sen và cộng sự (2017) đã thực hiện nghiên cứu thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa tại xã Vĩnh Quang huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động của biến đôi khí hậu đối với sản xuất lúa của nông hộ và các giải pháp thích ứng mà nông hộ đã áp dung dé giảm thiêu những 6 tác động đó. Thông tin nghiên cứu được thu thập qua 2 cuộc thảo luận nhóm gồm 12 nông dân đại diện của 6 thôn trong xã; phỏng vấn sâu 4 lãnh đạo xã và người am hiểu về sản xuất lúa; và phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc 50 hộ sản xuất lúa của xã. Thông tin thu thập được phân tích bằng phương pháp phân tích thực trang và phương pháp phân tích thống kê mô tả, gồm giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất và tỉ lệ phần trăm các nhóm ý kiến. Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% nông hộ đã nhận thấy các tác động rõ rệt của biến đôi khí hậu đến sản xuất lúa, gồm hạn hán, nhiễm mặn và rét đậm.
Nhiều hoạt động thích ứng đã được nông hộ thực hiện dé giảm rủi ro, trong đó hoạt động chuyền đồi lúa hè thu sang trồng đậu xanh và ngô là hoạt động thích ứng được hơn 90% hộ nông dân áp dụng. Tat cả các hộ chuyên đổi khang định đây là giải pháp góp phan rất lớn làm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, mang lại hiệu quả cao về cả kinh tế, xã hội, môi trường và có khả năng nhân rộng trên địa bàn. Tuy nhiên, việc chuyên đổi cơ cấu cây trồng cũng như áp dụng các giải pháp thích ứng hạn, rét và nhiễm mặn trong sản xuất lúa còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch nên vẫn tìm ân những rủi ro. Nghiên cứu này đã đề xuất một số giải pháp đề hạn chế rủi ro và nâng cao năng lực thích ứng của hộ trong sản xuât lúa ở địa ban nghiên cứu.
Vũ Thùy Linh và các cộng sự (2020) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.