Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam hiện đóng góp khoảng 20% đến 22% tổng giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi, với nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm gà thả vườn, gà lông màu chất lượng cao tăng trưởng ổn định trên 15% mỗi năm. Mặc dù các giống gà bản địa như gà Ri, Mía, Đông Tảo có phẩm chất thịt thơm ngon và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, nhưng nhược điểm lớn nhất là năng suất sinh sản thấp, chỉ đạt từ 100 đến 124 quả trứng trên mỗi mái mỗi năm, gây khó khăn cho việc mở rộng quy mô trang trại tập trung. Ngược lại, các giống gà ngoại nhập cao sản tuy có năng suất vượt trội nhưng lại đòi hỏi điều kiện chăm sóc khắt khe và chất lượng thịt chưa hoàn toàn phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài tập trung đánh giá khả năng sinh trưởng và sinh sản của hai dòng gà mái thế hệ 4 là VP4 (tổ hợp lai giữa gà Ri vàng rơm, Lương Phượng và Dominant) và VP5 (tổ hợp lai giữa gà Ri vàng rơm, Sasso và Dominant). Thí nghiệm được triển khai tại Trại Thực nghiệm Liên Ninh thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2019, trên quy mô tổng đàn 600 cá thể gà mái từ 1 đến 52 tuần tuổi. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt trong việc xác định các tiêu chí chọn lọc định hướng cho thế hệ 5, hướng tới việc ổn định năng suất trứng đạt trên 125 quả trên mái, tỷ lệ phôi đạt trên 92% và tối ưu hóa mức tiêu tốn thức ăn dưới 2,20 kg cho 10 quả trứng, góp phần cung cấp nguồn giống gia cầm bố mẹ chất lượng cao cho ngành chăn nuôi Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết di truyền số lượng và nguyên lý ưu thế lai trong chăn nuôi gia cầm. Các chỉ tiêu năng suất như tốc độ sinh trưởng, khối lượng cơ thể, sản lượng trứng và tỷ lệ ấp nở bản chất là những tính trạng số lượng chịu sự kiểm soát của hệ thống đa gen có hiệu ứng nhỏ và chịu tác động mạnh mẽ từ môi trường sống theo mô hình di truyền số lượng. Trong cấu trúc này, giá trị cộng gộp quyết định giá trị giống trong chọn lọc nhân thuần, trong khi hiệu ứng sai lệch trội và tương tác át gen tạo nên sức sống vượt trội của con lai.

Cơ sở khoa học của việc lai kinh tế ba giống được áp dụng nhằm kết hợp các đặc tính ưu việt của giống gà Ri nội địa về sức kháng bệnh, chất lượng thịt thơm ngon với tốc độ tăng trọng nhanh của gà Lương Phượng, Sasso và sức đẻ trứng cao của giống Dominant. Ưu thế lai kỳ vọng đạt từ 5% đến 20% so với trung bình của các dòng bố mẹ. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: sinh trưởng tích lũy theo tuần tuổi, tuổi thành thục sinh dục, tỷ lệ đẻ đỉnh cao, hệ số chuyển hóa thức ăn và hệ số di truyền của tính trạng khối lượng trứng dao động từ 60% đến 74%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên quy mô mẫu gồm 600 gà mái hậu bị thế hệ 4 (300 gà mái dòng VP4 và 300 gà mái dòng VP5). Thí nghiệm được bố trí theo mô hình một nhân tố ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp lại cho mỗi công thức (mỗi lô gồm 100 cá thể) trong cùng một dãy chuồng nhằm triệt tiêu các sai số do tiểu khí hậu chuồng nuôi. Toàn bộ gà con được phân loại giới tính chính xác lúc 1 ngày tuổi bằng phương pháp lỗ huyệt.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng bằng cách kẹp số cánh cố định 30 cá thể trên mỗi đàn (tổng số 90 cá thể cho mỗi dòng gà) để theo dõi khối lượng cơ thể định kỳ vào một ngày cố định trong tuần vào buổi sáng trước khi cho ăn từ 1 đến 20 tuần tuổi. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày được xác định chính xác qua hiệu số giữa khối lượng thức ăn cung cấp và khối lượng thức ăn thừa. Ở thời điểm 37 đến 38 tuần tuổi, 30 quả trứng ngẫu nhiên của mỗi dòng được phân tích các chỉ tiêu chất lượng lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh bằng hệ thống thiết bị đo chuyên dụng của Nhật Bản và quạt so màu tiêu chuẩn. Toàn bộ dữ liệu thu thập trong suốt chu kỳ 52 tuần được xử lý phân tích phương sai bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Việc lựa chọn phương pháp phân tích phương sai là bắt buộc nhằm kiểm định độ tin cậy của các sai khác thống kê ở mức xác suất tin cậy 95% giữa hai dòng thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận độ đồng đều cao về ngoại hình và các chỉ số sinh trưởng vượt trội của cả hai dòng gà ở thế hệ thứ 4:

  • Đặc điểm ngoại hình và tỷ lệ nuôi sống: Lúc 1 ngày tuổi, màu lông vàng sọc lưng chiếm ưu thế với 67,33% ở dòng VP4 và 69,33% ở dòng VP5. Đến 20 tuần tuổi, 83,03% cá thể VP4 và 86,64% cá thể VP5 mang màu lông nâu vàng đốm đen dạng cánh sẻ. Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị từ 1 đến 20 tuần tuổi của dòng VP4 đạt 94,00%, cao hơn dòng VP5 đạt 92,33%, vượt trội so với gà Ri thuần chủng (85,60% đến 88,30%).
  • Khối lượng cơ thể và tiêu thụ thức ăn: Khối lượng sơ sinh 1 ngày tuổi của VP4 là 40,13 gam và VP5 là 40,40 gam. Kết thúc 8 tuần tuổi ăn tự do, khối lượng đạt 762,67 gam ở VP4 và 760,22 gam ở VP5. Sau giai đoạn ăn hạn chế từ tuần 9 đến tuần 20 với cùng mức tiêu thụ 6048 gam thức ăn, khối lượng lúc vào đẻ ở 20 tuần tuổi của dòng VP4 đạt 1648,67 gam, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với dòng VP5 đạt 1566,33 gam. Tổng thức ăn tiêu thụ hậu bị đạt 8129,73 gam ở VP4 và 8057,89 gam ở VP5.
  • Năng suất sinh sản và phẩm chất trứng: Tuổi đẻ trứng đầu của dòng VP4 là 141 ngày tuổi, sớm hơn dòng VP5 là 144 ngày tuổi. Dòng VP4 đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao 70,75% ở tuần 29, trong khi dòng VP5 đạt đỉnh cao 75,68% ở tuần 30. Đến 52 tuần tuổi, sản lượng trứng của dòng VP5 đạt 128,61 quả trên mái, cao hơn 4,26 quả (tăng 3,42%) so với dòng VP4 đạt 124,35 quả trên mái. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của dòng VP5 là 2,03 kg, thấp hơn 7,72% so với dòng VP4 là 2,20 kg. Tỷ lệ trứng có phôi của VP5 đạt 93,42% và tỷ lệ gà con loại 1 trên tổng trứng ấp đạt 83,70%, cao hơn dòng VP4 (92,73% và 80,53%).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về khả năng sản xuất giữa hai dòng phản ánh rõ nét tác động của các nguồn gen bố mẹ nhập ngoại. Dòng VP5 mang nguồn gen của giống gà Sasso có khả năng duy trì sức đẻ bền bỉ và hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm trứng tốt hơn, thể hiện qua mức tiêu tốn thức ăn chỉ 2,03 kg cho 10 quả trứng, thấp hơn đáng kể so với mức 2,60 đến 2,98 kg của các dòng bố mẹ nhập nội từ Pháp. Ngược lại, dòng VP4 mang gen Lương Phượng có tốc độ thành thục sinh dục sớm hơn 3 ngày nhưng tỷ lệ đẻ đỉnh cao thấp hơn 4,93%.

Để phục vụ công tác theo dõi và phân tích chuyên sâu, toàn bộ hệ thống dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua hai dạng biểu đồ khoa học:

  • Thứ nhất, đồ thị sinh trưởng tích lũy dạng đường cong thực nghiệm hình chữ S mô tả rõ pha tăng trưởng bứt phá từ tuần 1 đến tuần 8 và pha tăng trưởng ổn định được kiểm soát từ tuần 9 đến tuần 20.
  • Thứ hai, biểu đồ đường kép thể hiện động thái tỷ lệ đẻ theo tuần tuổi từ tuần 21 đến tuần 52, giúp nhận diện chính xác thời điểm bùng nổ năng suất ở tuần 29 đối với VP4 và tuần 30 đối với VP5. Bên cạnh đó, bảng tổng hợp phân tích phương sai cung cấp bằng chứng định lượng rõ ràng về sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai dòng.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Ưu tiên chọn lọc dòng VP5 làm đàn mái nền: Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi cần tiếp tục nhân giống thế hệ thứ 5 đối với dòng VP5, tập trung chọn lọc cá thể có năng suất trứng đạt trên 130 quả trên mái ở 52 tuần tuổi và nâng tỷ lệ gà loại 1 lên 85% trong chu kỳ nghiên cứu giai đoạn 2020 - 2022.
  • Chuẩn hóa định mức khẩu phần dinh dưỡng giai đoạn hậu bị: Đội ngũ kỹ thuật viên trại giống cần áp dụng quy trình cho ăn hạn chế nghiêm ngặt với tổng lượng cám 6048 gam mỗi con trong khoảng từ tuần 9 đến tuần 20, duy trì khối lượng cơ thể lúc vào đẻ ở mức 1550 đến 1600 gam đối với VP5 và 1630 đến 1670 gam đối với VP4 nhằm hạn chế mỡ tích lũy và kéo dài đỉnh đẻ.
  • Kiểm soát quy trình ấp nở và thụ tinh nhân tạo: Trạm ấp thực nghiệm cần duy trì chế độ đảo trứng và kiểm soát nhiệt ẩm tối ưu để đảm bảo tỷ lệ trứng có phôi đạt trên 93,50%, hạ tỷ lệ hao hụt phôi chết giai đoạn 18 đến 21 ngày xuống dưới 2,50% trong suốt chu kỳ khai thác trứng giống.
  • Xây dựng mô hình chuỗi chuyển giao con giống thương phẩm: Cơ quan quản lý khuyến nông phối hợp cùng các hợp tác xã chăn nuôi triển khai thử nghiệm 20.000 đến 50.000 gà thương phẩm lai từ dòng mái VP5 tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2021 - 2024, hướng tới giảm 5% đến 8% chi phí thức ăn cho nông hộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Chuyên gia chọn tạo giống và kỹ sư chăn nuôi: Tham khảo quy trình lai ba giống và phương pháp chọn lọc qua 4 thế hệ để ứng dụng xây dựng các tổ hợp lai gà lông màu thả vườn có năng suất cao.
  • Chủ trang trại và doanh nghiệp sản xuất gia cầm giống: Ứng dụng hệ thống chỉ số định mức thực tế về lượng thức ăn tiêu thụ (8057 đến 8129 gam giai đoạn hậu bị) và tỷ lệ đẻ đỉnh cao để xây dựng kế hoạch dự trù thức ăn, kiểm soát khối lượng đàn gà hậu bị và tính toán giá thành con giống.
  • Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp và cán bộ khuyến nông: Sử dụng các số liệu thực chứng về tỷ lệ nuôi sống (92,33% đến 94,00%) và sức chống chịu bệnh tật để hoạch định các chương trình phát triển giống gà lông màu bản địa hóa tại địa phương.
  • Giảng viên và học viên cao học ngành Chăn nuôi: Sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn, phương pháp đánh giá chất lượng trứng bằng máy đo chuyên dụng và ứng dụng phần mềm phân tích thống kê trong nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

  • Công thức lai tạo để tạo ra hai dòng gà mái VP4 và VP5 gồm những nguồn giống nào? Dòng VP4 được tạo ra từ việc sử dụng gà trống Dominant lai với gà mái lai F1 giữa gà Ri vàng rơm và Lương Phượng. Dòng VP5 sử dụng gà trống Dominant phối với gà mái lai F1 giữa gà Ri vàng rơm và Sasso. Nhờ vậy, cả hai dòng đều kết hợp được đặc tính thích nghi của gà Ri và năng suất cao của các giống ngoại.

  • Dòng gà nào thể hiện ưu thế vượt trội hơn về năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế? Dòng gà VP5 chiếm ưu thế rõ rệt với năng suất trứng đạt 128,61 quả trên mái ở 52 tuần tuổi (cao hơn dòng VP4 là 124,35 quả) và tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 75,68%. Ngoài ra, mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng của VP5 chỉ tốn 2,03 kg, giúp tiết kiệm 7,72% chi phí cám so với dòng VP4.

  • Khả năng sống sót và mức độ thích nghi của hai dòng gà này trong thực tế ra sao? Cả hai dòng gà đều thích nghi rất tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm tại miền Bắc. Giai đoạn hậu bị từ 1 đến 20 tuần tuổi ghi nhận tỷ lệ nuôi sống đạt 94,00% ở dòng VP4 và 92,33% ở dòng VP5, cao hơn đáng kể so với giống gà Ri thuần chủng có tỷ lệ sống dao động từ 85,60% đến 88,30%.

  • Tại sao cần áp dụng chế độ cho ăn hạn chế ở giai đoạn gà từ 9 đến 20 tuần tuổi? Việc cho ăn hạn chế theo định mức 6048 gam trên mỗi con giúp đàn gà không bị béo sớm, duy trì khối lượng cơ thể vào đẻ tối ưu ở mức 1566 gam đối với VP5 và 1648 gam đối với VP4. Nếu để gà tích lũy nhiều mỡ bụng sẽ làm giảm tỷ lệ đẻ, chậm tuổi thành thục và tăng chi phí thức ăn vô ích.

  • Phẩm chất trứng và kết quả ấp nở của hai dòng gà có đạt tiêu chuẩn nhân giống không? Khối lượng trứng ở 38 tuần tuổi đạt mức chuẩn 55,32 gam ở VP4 và 56,27 gam ở VP5. Tỷ lệ trứng có phôi rất cao, đạt từ 92,73% đến 93,42%, cùng với tỷ lệ gà con loại 1 trên tổng trứng ấp đạt từ 80,53% đến 83,70%, hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của đàn gà giống bố mẹ.

Kết luận

  • Đàn gà mái VP4 và VP5 thế hệ thứ 4 đã ổn định cao về ngoại hình với trên 83% mang màu lông nâu vàng đốm đen và tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị đạt từ 92,33% đến 94,00%.
  • Dòng gà VP5 khẳng định ưu thế vượt trội về khả năng sinh sản với 128,61 quả trứng trên mái ở 52 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 75,68% và mức tiêu tốn thức ăn chỉ 2,03 kg cho 10 quả trứng.
  • Khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi của hai dòng được kiểm soát chuẩn mực ở mức 1566,33 gam đối với VP5 và 1648,67 gam đối với VP4, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn đẻ trứng.
  • Các chỉ tiêu chất lượng ấp nở đạt kết quả ấn tượng với tỷ lệ trứng có phôi trên 92% và tỷ lệ gà loại 1 đạt từ 80,53% đến 83,70%.
  • Đề tài đã đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác chọn tạo dòng gà lông màu chất lượng cao tại Việt Nam.

Về định hướng tiếp theo, trong giai đoạn 2020 - 2023 cần tiếp tục củng cố chọn lọc dòng mẹ VP5 ở thế hệ 5 và tiến hành các phép lai thử nghiệm với dòng trống chuyên thịt để tạo tổ hợp gà thương phẩm lông màu phục vụ sản xuất đại trà. Các nhà khoa học, doanh nghiệp và trang trại chăn nuôi hãy tham khảo chi tiết kết quả luận văn thạc sĩ để ứng dụng các định mức kỹ thuật vào quy trình quản lý đàn giống, nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh cho ngành chăn nuôi gia cầm.