Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi gia cầm giữ vị trí chiến lược trong việc bảo đảm an ninh thực phẩm và cung cấp nguồn protein động vật chất lượng cao cho xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế, thị hiếu người tiêu dùng đang chuyển dịch mạnh mẽ từ tiêu thụ thịt gà công nghiệp lông trắng sang các sản phẩm gà lông màu có chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc tương tự gà bản địa. Tuy nhiên, các giống gà nội thuần như gà Ri, gà Mía hay gà Hồ thường có năng suất trứng thấp, dao động từ 43 đến 72 quả mỗi mái một năm, tốc độ sinh trưởng chậm và khó phát triển theo quy mô trang trại tập trung. Ngược lại, các giống gia cầm nhập nội như Sasso, Lương Phượng hay Dominant có năng suất sinh sản vượt trội đạt từ 150 đến 300 quả mỗi mái nhưng chưa hoàn toàn thích nghi với thị hiếu tiêu dùng về ngoại hình và phẩm chất thịt.

Nhằm giải quyết mâu thuẫn này, đề tài được triển khai nhằm đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, đặc điểm ngoại hình và năng suất sinh sản của hai dòng gà mái VP4 và VP5 ở thế hệ chọn tạo thứ 4. Nghiên cứu được thực hiện tại Trại Thực nghiệm Liên Ninh thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2019. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dẫn liệu chuẩn xác về tỷ lệ nuôi sống đạt 92,33% đến 94,00%, khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi đạt 1566,33 gam đến 1648,67 gam và sản lượng trứng đạt 124,35 đến 128,61 quả mỗi mái đến 52 tuần tuổi. Đây là cơ sở thực nghiệm vững chắc để phục vụ công tác tuyển chọn, nhân giống và hoàn thiện các tổ hợp lai gà lông màu chất lượng cao tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết di truyền số lượng của động vật. Các chỉ tiêu về khối lượng cơ thể, lượng thức ăn tiêu thụ và sản lượng trứng chịu sự chi phối của nhiều gen có hiệu ứng nhỏ hoạt động theo mô hình giá trị kiểu hình biểu diễn qua công thức tương tác giữa giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường: P = G + E = A + D + I + Eg + Es. Trong đó, hiệu ứng cộng gộp (A) giữ vai trò then chốt cho công tác chọn lọc nhân thuần dòng mẹ, còn hiệu ứng tương tác trội (D) và át gen (I) tạo nên giá trị giống đặc biệt trong các tổ hợp lai.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) trong phương pháp lai phối hợp đa dòng. Bằng việc kết hợp nguồn gen gà Ri vàng rơm bản địa với các dòng gà nhập nội cao sản gồm Lương Phượng, Sasso và Dominant, các tổ hợp lai tạo ra dòng VP4 mang công thức kết hợp ba dòng và dòng VP5 mang tổ hợp di truyền ưu việt. Cơ chế này cho phép con lai tích lũy sức kháng bệnh, khả năng thích nghi khí hậu nhiệt đới ẩm của giống gà nội kết hợp với năng suất trứng cao từ các giống ngoại nhập, tạo ra ưu thế lai nâng cao hiệu quả sinh học từ 5% đến 20%. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các quy luật sinh lý học sinh sản gia cầm, cơ chế hình thành tế bào trứng qua phễu, ống dẫn trứng và tương tác đa gen điều khiển tuổi thành thục sinh dục (cặp gen E, e), cường độ đẻ trứng (cặp gen R, r) và chu kỳ quang chu kỳ chiếu sáng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được bố trí theo mô hình thí nghiệm một nhân tố ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 2 nghiệm thức tương ứng với hai dòng gà mái VP4 và VP5, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần độc lập trong cùng một điều kiện chuồng trại. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm tổng cộng 600 gà con một ngày tuổi, phân bổ đều 300 gà mái dòng VP4 và 300 gà mái dòng VP5, nuôi nhốt trong 6 ô chuồng thí nghiệm với quy mô 100 con mỗi ô.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật kiểm tra lỗ huyệt lúc 01 ngày tuổi để tách trống mái chính xác 100%. Nhằm theo dõi động thái tăng trưởng, nghiên cứu tiến hành kẹp số cánh ngẫu nhiên 30 cá thể trên mỗi đàn và thực hiện cân khối lượng định kỳ vào buổi sáng cố định hàng tuần trước giờ cho ăn. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày được xác định thông qua việc cân chuẩn xác khối lượng thức ăn cung cấp trừ đi lượng thức ăn thừa tại cùng một thời điểm. Khảo sát phẩm chất trứng được tiến hành tại thời điểm 37 đến 38 tuần tuổi trên dung lượng mẫu 30 quả mỗi dòng bằng hệ thống thiết bị đo FHK chuyên dụng của Nhật Bản kết hợp quạt so màu lòng đỏ Roche. Toàn bộ cơ sở dữ liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học qua phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) một nhân tố trên phần mềm Minitab 16 và Microsoft Excel 2010 nhằm kiểm định sự sai khác trung bình với độ tin cậy thống kê P < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ổn định về đặc điểm ngoại hình của hai dòng gà ở thế hệ 4 đã đạt tỷ lệ rất cao. Lúc 01 ngày tuổi, màu lông vàng sọc lưng chiếm tỷ lệ chủ yếu với 67,33% ở dòng VP4 (202 cá thể) và 69,33% ở dòng VP5 (208 cá thể). Đến 20 tuần tuổi, quần thể biểu hiện sự tập trung kiểu hình rõ rệt với nhóm màu lông nâu vàng đốm đen (cánh sẻ) chiếm ưu thế tuyệt đối đạt 83,03% ở dòng VP4 và 86,64% ở dòng VP5, phần còn lại là màu lông vàng đốm đen chiếm 16,67% ở VP4 và 13,36% ở VP5. Cả hai dòng đều có mào cờ phát triển, da chân màu vàng và dái tai phớt trắng đặc trưng.

Thứ hai, sức sống và tốc độ sinh trưởng của đàn gà được duy trì ở mức tối ưu. Giai đoạn 1 đến 8 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của dòng VP4 đạt 96,33% và dòng VP5 đạt 95,67%. Tính chung toàn bộ giai đoạn hậu bị 1 đến 20 tuần tuổi, tỷ lệ sống của dòng VP4 đạt 94,00%, cao hơn so với dòng VP5 đạt 92,33%. Khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi của dòng VP4 đạt 1648,67 gam, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với dòng VP5 đạt 1566,33 gam (P < 0,05). Tổng lượng thức ăn thu nhận giai đoạn 1 đến 20 tuần tuổi của dòng VP4 là 8129,73 gam mỗi con, trong khi dòng VP5 tiêu thụ 8057,89 gam mỗi con.

Thứ ba, các chỉ tiêu năng suất sinh sản và phẩm chất ấp nở của dòng VP5 thể hiện sự vượt trội về hiệu quả kinh tế. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của dòng VP4 ghi nhận ở 141 ngày tuổi, sớm hơn dòng VP5 ở 144 ngày tuổi. Tuy nhiên, dòng VP5 đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao lên tới 75,68% ở tuần tuổi thứ 30, cao hơn đáng kể so với dòng VP4 đạt 70,75% ở tuần tuổi thứ 29. Năng suất trứng lũy kế đến 52 tuần tuổi của dòng VP5 đạt 128,61 quả mỗi mái, cao hơn dòng VP4 đạt 124,35 quả mỗi mái khoảng 3,42%. Mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng của dòng VP5 chỉ là 2,03 kg, tiết kiệm hơn mức 2,20 kg của dòng VP4. Tỷ lệ trứng có phôi của dòng VP5 đạt 93,42% và tỷ lệ gà con loại I trên tổng trứng ấp đạt 83,70%, vượt trội hơn so với dòng VP4 có tỷ lệ phôi 92,73% và tỷ lệ gà loại I đạt 80,53%.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về các tính trạng kinh tế giữa hai dòng bắt nguồn trực tiếp từ cấu trúc nguồn gen lai tạo. Dòng VP5 mang 25% máu của giống gà Sasso kết hợp với Dominant nên phát huy ưu thế rõ rệt về cường độ đẻ trứng kéo dài, khối lượng trứng ở 38 tuần tuổi đạt 56,27 gam và chỉ số chuyển hóa thức ăn thấp. Ngược lại, dòng VP4 tiếp nhận nguồn gen Lương Phượng nên có xu hướng phát triển khung thân lớn hơn, đạt khối lượng cơ thể cao hơn ở 20 tuần tuổi nhưng tỷ lệ đẻ đỉnh cao thấp hơn khoảng 4,93% so với VP5.

Để minh họa trực quan các quy luật sinh học này trong báo cáo khoa học, dữ liệu sinh trưởng được biểu diễn hiệu quả nhất qua Đồ thị sinh trưởng tích lũy dạng đường cong sigmoid. Đồ thị này phản ánh rõ hai pha tăng trưởng: pha gia tốc từ tuần 1 đến tuần 8 khi khối lượng tăng từ khoảng 40 gam lên hơn 760 gam, tiếp nối bằng pha tuyến tính ổn định từ tuần 9 đến tuần 20 dưới tác động của quy trình khống chế thức ăn định mức 6048 gam mỗi con. Đồng thời, diễn biến sinh sản được trực quan hóa qua Đồ thị tỷ lệ đẻ theo tuần tuổi dạng parabol lệch, cho thấy độ dốc gia tăng nhanh chóng từ ngưỡng đẻ 5% tại ngày thứ 148 đến 150, vươn tới điểm uốn cực đại tại tuần 29 đến 30 và duy trì độ bền đẻ trứng ổn định đến 52 tuần tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp kỹ thuật và định hướng ứng dụng:

  • Tiếp tục thực hiện chọn lọc nhân thuần định hướng trên đàn gà hạt nhân thế hệ thứ 5 và thứ 6, tập trung loại thải các cá thể phân ly kiểu hình lông xám đen nhằm nâng tỷ lệ đồng nhất màu lông nâu vàng đốm đen đạt trên 90% trước quý 4 năm 2021, do Bộ môn Di truyền Giống vật nuôi và Trung tâm Nghiên cứu gia cầm chủ trì.
  • Chuẩn hóa quy trình nuôi dưỡng định lượng cho đàn gà hậu bị từ tuần tuổi thứ 9 đến tuần thứ 20, duy trì nghiêm ngặt mức thức ăn 6048 gam mỗi cá thể nhằm kiểm soát khối lượng cơ thể lúc lên đẻ dao động trong khoảng 1560 đến 1650 gam, bảo đảm hệ số biến động đồng đều dưới 10% trước tháng 6 năm 2020 do kỹ thuật viên trại thực nghiệm thực hiện.
  • Ưu tiên lựa chọn dòng gà mái VP5 làm đàn bố mẹ phục vụ công tác sản xuất gà thịt thương phẩm lông màu thả vườn nhờ ưu thế vượt trội về sản lượng trứng đạt 128,61 quả mỗi mái, tỷ lệ gà con loại I đạt 83,70% và suất tiêu hao thức ăn thấp 2,03 kg cho 10 quả trứng, triển khai mở rộng quy mô sản xuất từ năm 2020 bởi Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi.
  • Thiết lập các mô hình chăn nuôi thử nghiệm bán thâm canh nông hộ quy mô 1000 đến 3000 con tại các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm đánh giá khả năng thích nghi môi trường và tính kháng bệnh thực địa trong giai đoạn 2020 đến 2022 do hệ thống khuyến nông địa phương phối hợp cùng các viện nghiên cứu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và giá trị ứng dụng cao cho các nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Các nhà khoa học và chuyên gia chọn giống gia cầm: Khai thác phương pháp lai ba dòng, mô hình tính trạng di truyền số lượng và dữ liệu so sánh thế hệ để thiết kế các chương trình chọn tạo giống vật nuôi mới.
  • Doanh nghiệp và chủ trang trại sản xuất con giống: Vận dụng bảng định mức dinh dưỡng phân kỳ, quy trình khống chế khối lượng hậu bị và các chỉ số ấp nở thực tế để nâng cao tỷ lệ trứng có phôi trên 93% và hạ giá thành sản xuất gà giống một ngày tuổi.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn CRD, kỹ thuật đánh giá phẩm chất trứng qua chỉ số Haugh và thuật toán xử lý ANOVA bằng Minitab.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông cơ sở: Căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hai dòng gà để xây dựng đề án chuyển giao công nghệ chăn nuôi gia cầm lông màu chất lượng cao phù hợp với điều kiện kinh tế nông hộ.

Câu hỏi thường gặp

Dòng gà mái VP4 và VP5 được tạo ra từ những tổ hợp lai di truyền nào? Dòng gà mái VP4 được tạo ra từ công thức lai giữa gà trống Dominant với gà mái F1 của tổ hợp lai giữa gà Ri vàng rơm và gà Lương Phượng. Dòng gà mái VP5 được tạo thành từ việc lai giữa gà trống Dominant với gà mái F1 của tổ hợp lai giữa gà Ri vàng rơm và gà Sasso. Cả hai dòng đều trải qua quá trình chọn lọc ổn định qua 4 thế hệ liên tục.

Dòng gà nào thể hiện năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế tốt hơn? Dòng gà mái VP5 thể hiện hiệu quả kinh tế vượt trội hơn với năng suất trứng đạt 128,61 quả mỗi mái ở 52 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 75,68% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng chỉ là 2,03 kg, so với mức tương ứng của dòng VP4 là 124,35 quả, đỉnh đẻ 70,75% và tiêu tốn thức ăn 2,20 kg.

Tại sao phải khống chế lượng thức ăn nghiêm ngặt trong giai đoạn gà hậu bị 9 đến 20 tuần tuổi? Giai đoạn 9 đến 20 tuần tuổi cần cho ăn hạn chế ở mức tổng cộng 6048 gam mỗi con để kiểm soát khối lượng cơ thể không quá béo hoặc quá gầy. Khối lượng cơ thể chuẩn ở tuần thứ 20 đạt từ 1566 đến 1648 gam giúp bộ khung phát triển hoàn chỉnh, cơ quan sinh dục thành thục đồng đều và ngăn ngừa hiện tượng tích mỡ bụng làm giảm tỷ lệ đẻ.

Chất lượng ấp nở và tỷ lệ gà con loại I của hai dòng gà thí nghiệm đạt bao nhiêu phần trăm? Ở thế hệ thứ 4, cả hai dòng đều có tỷ lệ ấp nở rất tốt. Dòng gà mái VP4 ghi nhận tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,73% và tỷ lệ gà con loại I trên tổng số trứng ấp đạt 80,53%. Dòng gà mái VP5 đạt tỷ lệ trứng có phôi lên tới 93,42% và tỷ lệ gà con loại I đạt mức 83,70%.

Hai dòng gà này có phù hợp với phương thức chăn nuôi bán thâm canh hoặc chăn thả không? Hai dòng gà VP4 và VP5 có nguồn gen từ gà Ri bản địa nên khả năng thích nghi cao, sức kháng bệnh tốt với tỷ lệ nuôi sống toàn kỳ đạt 92,33% đến 94,00%. Ngoại hình lông màu nâu vàng đốm đen, chân vàng và chất lượng thịt thơm ngon giúp hai dòng gà này hoàn toàn thích ứng với phương thức nuôi bán thâm canh và thả vườn.

Kết luận

  • Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 1 đến 20 tuần tuổi đạt mức rất cao, ghi nhận 94,00% ở dòng VP4 và 92,33% ở dòng VP5, chứng minh khả năng thích nghi sinh thái vượt trội.
  • Đặc điểm ngoại hình đạt độ ổn định vững chắc ở thế hệ thứ 4 với tỷ lệ lông nâu vàng đốm đen ở 20 tuần tuổi đạt từ 83,03% đến 86,64%.
  • Khối lượng cơ thể lúc vào đẻ được kiểm soát tối ưu, đạt 1648,67 gam ở dòng VP4 và 1566,33 gam ở dòng VP5, tạo tiền đề sinh sản thuận lợi.
  • Năng suất trứng đến 52 tuần tuổi đạt hiệu quả cao với 124,35 quả mỗi mái ở dòng VP4 và 128,61 quả mỗi mái ở dòng VP5.
  • Suất tiêu hao thức ăn ở giai đoạn đẻ được tối ưu hóa ở mức 2,03 kg cho 10 quả trứng đối với dòng VP5 và 2,20 kg đối với dòng VP4.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện quy trình đánh giá và khẳng định tiềm năng sản xuất của hai dòng gà mái VP4, VP5 thế hệ 4, mở ra hướng đi bền vững trong việc tự chủ nguồn giống gà lông màu năng suất cao. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2020 đến 2025 cần tập trung nhân thuần đàn giống hạt nhân thế hệ 5 và mở rộng sản xuất thương phẩm. Các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm nên sớm ứng dụng nguồn giống VP5 vào chuỗi sản xuất thực nghiệm để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi.