Đặt vấn đề Nước ta là nước nông nghiệp với 70% dân số làm nông nghiệp. Từ xa xưa hình ảnh con trâu đã gắn liền với nền nông nghiệp Việt Nam, vì thế mà ông cha ta có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với khả năng lao tác cày kéo tốt, sức kéo trung bình đạt từ 700 - 800N (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007), trâu làm việc dai sức,cung cấp một nguồn sức kéo quan trọng giúp người nông dân tham gia canh tác, sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn được sử dụng để kéo xe và vận chuyển hàng hóa. Phân trâu là loại phân hữu cơ tốt, ước tính một con trâu trưởng thành trung bình 1 ngày thải ra từ 15 - 20kg/ngày, cung cấp một lượng lớn nhu cầu phân hữu cơ cho nông nghiệp.
Thịt trâu được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Tỉ lệ thịt xẻ ở trâu cái là 42%, đực thiến là 45%. Về năng lượng thịt trâu béo cung cấp 2558kcal/kg, loại trung bình cung cấp 2080kcal/kg (Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tường, 2007). Trâu là con vật dễ nuôi, có khả năng chịu kham khổ tốt, dễ thích nghi với ngoại cảnh và chống đỡ với bệnh tật cao.
Cấu tạo bộ máy tiêu hóa là hệ vi sinh vật dạ cỏ phong phú nên trâu có thể sử dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên và nguồn phụ phẩm nông nghiệp. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, số lượng đàn trâu trong cả nước năm 2014 là 2.976 con và năm 2016 là 2.015 con, đang có xu hướng giảm sút về cả số lượng và chất lượng qua các năm (năm 2016 đàn trâu giảm khoảng 1,6% so với năm 2014). Do tập quán chăn nuôi thả rông thành đàn, tự do giao phối, vấn đề cận huyết kéo dài do không luân chuyển đực giống, do nhu cầu kinh tế nên người dân họ thường bán đi những con trâu có vóc dáng to để được nhiều tiền, giữ h 2 lại trâu bé, dẫn đến khối lượng cơ thể bị giảm dần. Về công tác quản lý chưa có sự vào cuộc của cơ quan chuyên môn để hình thành hệ thống chọn lọc, quản lý giao phối và nhân giống nhằm gìn giữ những đặc tính ưu việt của phẩm giống và phát huy tiềm năng di truyền của chúng.
Vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen trâu có tầm vóc lớnlà hết sức cần thiết, trong đó chọn lọc những trâu đực và trâu cái có tầm vóc to làm giống để nâng cao sức sản xuất của đàn con sinh ra nhằm khai thác và phát triển nguồn gen một cách có hiệu quả, góp phần phát triển chăn nuôi trâu đạt năng suất, chất lượng cao, có tính bền vững, đem lại hiệu quả chăn nuôi và kinh tế cho nông dân. Xuất phát từ yếu tố trọn lọc trên, đã tiến hành đề tài: “Tình hình chăn nuôi trâu và đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn nghé, giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi, sinh ra từ trâu bố mẹ được chọn lọc nuôi tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu của đề tài Đánh giá được hiện trạng chăn nuôi trâu địa phương. Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn nghé, giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi, từ đàn bố mẹ được chọn lọc 1.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Về mặt khoa học: Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng trâu bố mẹ có tầm vóc lớn trong phối giống tới khối lượng đàn con sinh ra, làm cơ sở thuyết phục người dân áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý giống. Về mặt thực tiễn: Đánh giá được khả năng sinh trưởng của đàn nghé sinh ra từ đàn bố mẹ được chọn lọc, giúp các cơ quan chuyên môn xây dựng các chính sách, giải pháp chỉ đạo quản lý công tác giống trên địa bàn nhằm bảo tồn, phát triển và khai thác nguồn gen cho các mục tiêu kinh tế xã hội địa phương, thiết thực nâng cao đời sống người dân. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Chiêm Hóa Chiêm Hoá là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, nơi có hơn 80% là dân tộc thiểu số.
Qua nhiều lần thay đổi, tới nay Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, huyện lỵ đặt tại thị trấn Vĩnh Lộc, cách trung tâm tỉnh Tuyên Quang 67 km. Diện tích cả huyện là 127.965,19 ha đất sản xuất nông nghiệp và 105.126,2 ha đất lâm nghiệp. Toàn huyện có 378 thôn, tổ nhân dân, dân số trên 132.000 người với 18 dân tộc cùng chung sống, mật độ dân số trung bình là 102 người/km2. Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên mang lại cho Chiêm Hoá nhiều lợi thế, sự giàu có về tài nguyên, khoáng sản cũng như thế mạnh về sản xuất nông, lâm nghiệp.
Rừng Chiêm Hoá có nhiều lâm thổ sản: đinh, lim, nghiến, lát, sa nhân. và muông thú quý, hiếm: gấu, nhím, tê tê, tắc kè, voọc mũi hếch (một loài thú có nguy cơ bị tuyệt chủng ở mức nguy cấp, được ghi tên trong sách đỏ của thế giới và sách đỏ Việt Nam). Dưới lòng đất các khoáng sản đã được khai thác có ăng - ty - moan, măng - gan, vàng sa khoáng. Đất đai có độ phong hoá cao, lượng mưa và độ ẩm thích hợp, nhiều thung lũng cỏ.
Chiêm Hoá có đầy đủ các điều kiện để trồng cây lương thực (lúa, ngô), cây công nghiệp (lạc, mía, chè, các cây họ đậu), chăn nuôi gia súc gia cầm và phát triển nghề rừng cũng như các ngành công nghiệp khai thác, chế biến. Kinh tế của huyện tập trung phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản là thế mạnh; bên cạnh đó sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển du lịch trong những năm gần đây được huyện phát huy lợi thế để đẩy mạnh phát triển. Dự kiến đến hết năm 2018, thu nhập bình quân toàn huyện đạt 27,05 triệu đồng/người. h 4 Đời sống văn hoá của nhân dân các dân tộc khá phong phú, tứ xa xưa đã sớm biết tạo nên những đường nét hoa văn tinh xảo, thể hiện trình độ nghệ thuật cao trên trang phục và các đồ trang sức.
Vào các ngày lễ, tết, đồng bào thường tụ họp theo làng, bản cùng nhau ném còn, hát then, hát cọi. Những điệu hát chứa đựng nhiều nội dung phong phú, trong sáng và đầy sức thuyết phục của một nền nghệ thuật văn hoá dân tộc giầu sức sống. Ngày nay, cứ vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội Lồng Tồng lại được tổ chức tại trung tâm huyện với nhiều loại hình văn hoá, thể thao. đã thực sự trở thành ngày hội văn hoá của nhân dân các dân tộc trong huyện.
Vị trí địa lý Huyện Chiêm Hoá nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21o 58’21” đến 22o 30’56” vĩ độ Bắc và từ 104o 58’21” đến 105o 31’33” kinh độ Đông, có vị trí địa lý như sau: Phía Đông, Đông - Bắc giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) và huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang); phía Tây - Bắc giáp huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang); phía Tây - Nam giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang); phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Bắc giáp huyện Lâm Bình. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 146.061,82 ha, chiếm 24,88% diện tích tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang. Huyện Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, phân bố trên địa bàn khá rộng, xã xa nhất cách trung tâm huyện trên 45 km. Địa hình Địa hình của Chiêm Hoá bị chia cắt khá lớn bởi hệ thống sông ngòi và nhiều dãy núi lớn.
Nét chung của địa hình là sự xen kẽ không đều giữa các núi đá vôi và núi đất, giữa các dải núi cao và vùng đồi đất có độ cao trung bình hoặc thấp. Giữa các vùng đồi núi đó là các thung lũng có diện tích không lớn song đất đai mầu mỡ, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cư, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao. Phía Đông h 5 có đỉnh cao nhất là núi Khau Bươn (thuộc địa phận xã Kiên Đài, có độ cao 957m), phía Tây có đỉnh cao nhất là núi Cham Chu có độ cao 1.
Khí hậu thủy văn Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này thường hay xẩy ra lũ lụt; mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc, sương mù và sương muối. Điều kiện giao thông, thủy lợi Đường giao thông huyện Chiêm Hóa chủ yếu là đường bộ có nhiều đèo, dốc khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa. Hệ thống đường bộ đã đến tận các trung tâm xã. Các tuyến đường liên thôn chủ yếu là đường dân sinh đi lại gặp nhiều khó khăn nhất là mùa mưa.
Sông, suối của Chiêm Hoá có độ dốc cao, hướng chảy khá tập trung, các con suối, ngòi đều đổ dồn về sông Gâm và sông Lô. Con sông lớn nhất là sông Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, huyện Na Hang, chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với các con suối lớn, nhiều khe nhỏ tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân và là con đường giao thông, vận tải khá quan trọng. Tình hình sản xuất nông nghiệp 2.
Tình hình sản xuất ngành trồng trọt Ngành trồng trọt là ngành sản xuất chủ lực của huyện trình độ dân trí hạn chế, tập quán canh tác mang tính truyền thống, ít đổi mới, phụ thuộc h 6 nhiều vào tự nhiên nên việc sản xuất ngành trồng trọt của huyện còn gặp rất nhiều khó khăn. Diện tích đất nông nghiệp lớn canh tác cây lương thực lúa nước là chủ yếu, ngoài ra còn các loại cây trồng khác như: ngô, đậu tương, lạc. Có những dự án phát triển giống cây trồng được huyện quan tâm đưa vào trồng thử nghiệm nhiều loại giống lương thực phù hợp với điều khí hậu tại địa phương. Canh tác cây trồng nhiều vụ nhằm phát triển kinh tế, tăng năng suất cho bà con nông dân.
Ngoài cây nông nghiệp huyện Chiêm Hóa còn đẩy mạnh mở rộng diện tích cây công nghiệp là cây mía đường trên địa bàn huyện. Cung cấp tỉ trọng lớn nguyên liệu cho sản xuất đường của nhà máy đường Tuyên Quang.