Chương 1 GIỚI THIỆU An Giang là tỉnh đầu nguồn lưu vực Sông Cửu Long nên chịu ảnh hưởng của lũ lụt hàng năm. Ngoài việc phải đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của lũ lụt hàng năm thì gần đây người dân trong tỉnh đã biết tận dụng, khai thác tốt tiềm năng của lũ để phát triển các mô hình sản xuất (trồng cây thuỷ sinh, nuôi thuỷ sản kết hợp, trồng rau màu và nuôi vỗ béo bò,…) để tăng thêm thu nhập cho gia đình, góp phần làm tăng tỷ trọng GDP của tỉnh. Dựa vào những lợi thế đó tỉnh An Giang đã và đang tích cực thực hiện nhiều giải pháp để phát triển sản xuất giúp nông dân khai thác tốt tiềm năng kinh tế trong mùa lũ. Trong các loại cây trồng thuỷ sinh trong mùa lũ thì cây sen là loại cây trồng không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn có nhiều hữu dụng đối với đời sống con người, đặc biệt người Á Đông.
Tất cả các phần của cây sen đều được sử dụng để đem lại hiệu quả kinh tế cho người trồng sen như: ngó, hạt, củ, hoa, lá, v,v… Bên cạnh đó, cây sen là loài cây thuỷ sinh nên thích nghi tốt với vùng đất trũng, vùng ngập lũ hàng năm như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đặc biệt trong vùng Tứ giác Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang một số nơi cây sen đã và đang trở thành cây trồng quan trọng có thể giúp người nông dân xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập trong mùa lũ. Người dân ở xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cũng tìm đến với cây sen như một loại cây trồng có thể xoá đói giảm nghèo và tiến tới vươn lên giàu. Mô hình trồng sen cũng giúp người dân trong vùng giải quyết việc làm và giảm bớt thời gian nông nhàn của nông dân trong mùa lũ.
Tuy nhiên, việc trồng cây sen trong mùa lũ đến nay vẫn chưa có đầy đủ thông tin về mô hình sản xuất này. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ Tổng kết và theo dõi mô hình trồng sen trong mùa lũ tại xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2004 ” nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế, tìm ra những thuận lợi và khó khăn của mô hình trồng cây sen. Từ đó tìm ra quy trình kỹ thuật trồng cây sen để góp phần phát huy những mặt tích cực của mô hình, đồng thời góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất cho người trồng cây sen. Hình 1: Cánh đồng sen trong giai đoạn sinh sản.
Hình 2: Hoa, gương và lá sen Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc cây sen Cây sen (Nelumbo nucifera Gaerth hay Nelumbium speciosum Willd) thuộc họ Nelumboaceae, có nguồn gốc ở Châu Á, xuất phát từ Ấn Độ (Makino, 1979), sau đó lan qua Trung Quốc và vùng đông bắc Úc châu. Cây sen là loại cây thuỷ sinh với các bộ phận như lá, bông, hạt và củ đều là những bộ phận có thể ăn được và được tiêu thụ mạnh ở các nước Châu Á. Bông sen được sử dụng trong nhiều lễ hội ở các nước Châu Á, nhưng củ sen lại có giá trị thương mại và có thị trường lớn nhất so với các bộ phận khác của cây sen.
Cây sen có thể là một trong những cây xuất hiện sớm nhất và là biểu tượng của sự thịnh vượng và bất tử của nhiều nền văn hoá các nước Châu Á. Năm 1972, các nhà khảo cổ của Trung Quốc đã tìm thấy hoá thạch của hạt sen 5.000 tuổi tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).000 năm khác được tìm thấy ở tỉnh Chekiang (Trung Quốc) (Wu-Han, 1987). Các nhà khảo cổ Nhật Bản cũng tìm thấy các hạt sen 1.200 năm tuổi bị thiêu đốt trong hồ cổ sâu 6 m ở Chiban (Iwao, 1986). Họ tin rằng có một số giống sen xuất phát từ Nhật Bản, nhưng sen lấy củ thì từ Trung Quốc (Takashashi, 1994).
Một số giống sen từ Trung Quốc khi du nhập sang Nhật Bản một thời gian mang tên Nhật Bản như Taihakubasu, Benitenjo, Kunshikobasu, Sakurabasu và Tenjikubasu. Đặc tính thực vật của cây sen Cây sen có thân rễ (ngó sen) hình trụ, mọc bò lan dài trong bùn, hệ thống thân rễ rất phát triển, phân nhánh theo chiều ngang và nằm sâu dưới lớp bùn đến 0,5 m. Từ các đốt của thân rễ, mọc lên nhiều lá. (Đỗ Huy Bích và ctv.
Lá sen hình tròn, có đường kính khoảng 30 – 70 cm và mọc vượt lên khỏi mặt nước. Lá có cuống dài, có gai, đỉnh ở giữa phiến lá, mép lá uốn lượn, màu lục xám, giữa lá thường trũng xuống, mặt sau đôi khi điểm những đốm màu tía, gân hình khiên và hằn rõ (Hình 1). Độ dài của cuống lá tuỳ thuộc vào mực nước nông hay sâu, để phiến lá vượt khỏi mặt nước, thực hiện chức năng hô hấp và quang hợp. Hình 3: Các bộ phận của cây sen (Trần Việt Hưng, Phan Đức Bình., 2004) Theo Đỗ Huy Bích và ctv.
Hoa có 3-5 lá đài màu lục nhạt và rụng sớm. Cánh hoa phía trước to, khum lòng máng, những cánh hoa ở giữa và phía trong nhỏ hẹp dần. Nhị hoa có những dạng chuyển tiếp; nhị rất nhiều màu, chỉ nhị mảnh, có phần phụ (gạo sen) màu trắng và thơm; bộ nhụy gồm nhiều lá noãn rời nằm trên một đế hoa hình nón ngược (gương sen). Cây ra hoa và nở vào buổi sáng, thụ phấn vào buổi trưa hoặc đầu buổi chiều.
Gió và côn trùng là tác nhân truyền phấn quan trọng của cây. Mùa hoa thường bắt đầu sau 2-3 tháng sau khi trồng (bằng cây con) và sẽ cho thu hoạch sau ½ -1 tháng. Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2003) thì mùa hoa của cây sen thường bắt đầu vào tháng 5-6 và mùa quả vào tháng 7-9. Quả bế có núm nhọn, thường gọi là hạt sen, phần trước mỏng và cứng và có màu lục tía, phần giữa mềm chứa tinh bột màu trắng ngà và phần trong là lá mầm dày màu lục sẫm.
Khả năng tái sinh tự nhiên của sen chủ yếu từ hạt. Tuy nhiên, các đoạn thân rễ có chồi mầm mới là nguồn giống gây trồng nhiều hơn hạt. Đời sống của cây sen phụ thuộc tuyệt đối vào sự sinh trưởng phát triển của lá. Nếu trong vòng 2-3 năm liền cắt bỏ toàn bộ các lá trên mặt nước, phía trên thân rễ của sen ở dưới bùn sẽ bị chết.
Phân bố và sinh thái Cây sen phân bố hầu hết ở vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Mỹ, được trồng nhiều ở ao hồ, vùng trũng thấp và vùng đồng bằng. Những vùng đất bị ngập lũ, đầm lầy, nhiều bùn cây sen mọc rất khoẻ. Ở khu vực ĐBSCL một số nơi cây sen mọc hoang dại như khu vực Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Đồng Tháp và vùng Tứ giác Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang. Theo người dân địa phương nơi đây cây sen mọc trong trạng thái tự nhiên đã có từ lâu đời.
Hàng trăm hecta cây sen mọc tập trung và gần như thuần loại ở đây đã góp phần tạo nên cảnh quan sinh thái đặc biệt của vùng đất ngập nước. Bên cạnh quần thể hoang dại, sen cũng là cây trồng quen thuộc của người dân ở các tỉnh ĐBSCL và vùng trung du, suốt từ Nam đến Bắc. Cây sen được trồng ở các vùng ao hồ nước nông và trung bình. Do ưa khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới nên sen cũng được trồng nhiều ở hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và một số tỉnh phía nam Trung Quốc.
Giá trị của cây sen 2. Thành phần hoá học trong cây sen Hạt sen chứa thành phần chính là tinh bột, protein (14,81%), dầu béo (2,11%) và còn lại là các thành phần không xà phòng hoá (W.Tang và ctv. Theo Xuân Hoàng (1986) cho rằng trong hạt sen chứa nhiều tinh bột, đường (16%), canxi (0,098%), lân (0,025%), sắt (0.0064%), và vitamin; ngó sen chứa nhiều bột, đường đạm, vitamin C, A, B1, PP và một số chất khác như asparagin, asganin, cyrosin, etel, lân,… Tâm sen chứa hàm lượng alcaloid toàn phần là 1,23% và gương sen là 0,24% bao gồm 4 thành phần của alcaloid (nuciferin, N-nornuciferin, liriodenin, N-norarmepavin), và các flavonoid quercetin và isoquercetin (Nguyễn Thị Nhung và ctv , 2001). Kết quả phân tích thành phần có trong ngó sen và hạt sen của Nguyễn Đình San và ctv.
Theo các tác giả Đỗ Tất Lợi, Võ Văn Chi, Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Văn Đàn., (2005) thì trong lá sen có chứa tới 15 loại alcaloid (khoảng 0,77 – 0,84%); chất tanin 0,2 – 0,3%; cuống lá có chất roemerin và nhiều hương liệu khác. Bảng 1: Kết quả phân tích thành phần hóa học trong ngó và hạt sen Thành phần Ngó sen Hạt sen - Chất khô (%) 6,90 52,00 - Tinh bột (%) 22,31 58,00 - Đường khử (%) 2,72 4,64 - Vitamin C (%) 10,56 60,72 - Hàm lượng nước (%) 93,10 58,00 (Nguồn: Nguyễn Đình San và ctv, 2005) 2. Công dụng của các bộ phận của cây sen trong y học Trong nền y học dân tộc thì cây sen được xem là một trong những cây thuốc quý đem lại cho con người sức khoẻ và hạnh phúc. Cây sen, với tất cả các bộ phận của nó đều được sử dụng với giá trị rất cao đối với từng bộ phận.
Theo Xuân Hoàng (1986) thì dược lý, đông y xem hạt sen (liên tử) trần là một vị thuốc bổ tì, dưỡng tâm, trị suy nhược thần kinh, chữa các bệnh đường ruột, di tinh, mộng tinh, băng huyết. Và hạt sen chỉ là một trong những sản phẩm quý của cây sen. Các tác giả Trần Việt Hưng, Phan Đức Bình ( 2004) cho rằng hạt sen có vị ngọt/chát, tính ôn, tác dụng vào các kinh mạch thuộc thận, tâm và tỳ giúp bổ tỳ, dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh,… để trị các bệnh như: tiêu chảy, ăn mất ngon, bất lực, thiếu tinh trùng, gắt gỏng, khó tính, mất ngủ,… Lá sen (hà diệp) có vị đắng, tính bình, không độc, tác dụng vào các kinh mạch thuộc can, tỳ và vị giúp thanh thử, lợi thấp, tán ứ, chỉ huyết. Lá sen (liên diệp) có tác dụng đối với can, ti, vị, thang thanh tán uế, chữa các bệnh thấp, phù thũng, nôn, ra máu, chảy máu can,… Với tim sen thì đông y xem như một vị thuốc thanh tâm khử nhiệt trị các bệnh tâm phiền thổ huyết.