Tổng quan nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) giữ vị trí then chốt trong nền nông nghiệp toàn cầu với tổng diện tích canh tác năm 2016 đạt 181,4 triệu ha và sản lượng vượt mốc 1,04 tỷ tấn. Tại Việt Nam, diện tích gieo trồng đạt khoảng 1,15 triệu ha nhưng năng suất bình quân chỉ đạt 4,5 tấn/ha, tương đương 78,5% so với mức trung bình thế giới. Do áp lực tăng trưởng của ngành chăn nuôi công nghiệp, lượng ngô nhập khẩu của cả nước đã tăng mạnh từ 7,62 triệu tấn năm 2015 lên 8,45 triệu tấn vào năm 2016.

Sơn La là địa phương có diện tích trồng ngô lớn thứ hai toàn quốc với 204,1 nghìn ha năm 2016, song năng suất chỉ đạt khoảng 38,9 tạ/ha do hơn 60% diện tích nằm trên đất nương dốc, canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời và khí hậu khắc nghiệt. Tại huyện Mai Sơn, vùng trọng điểm với hơn 20,7 nghìn ha ngô, năng suất từng sụt giảm nghiêm trọng xuống mức 31,5 tạ/ha vào những năm hạn hán kéo dài. Phần lớn hạt giống ngô lai hiện nay phải nhập khẩu từ các tập đoàn nước ngoài với giá thành cao và khả năng thích nghi sinh thái chưa ổn định.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là khảo nghiệm, đánh giá có hệ thống khả năng sinh trưởng, phát triển, mức độ chống chịu sâu bệnh hại và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo. Nghiên cứu được triển khai thực địa trong 2 vụ Hè Thu liên tiếp năm 2016 và 2017 tại tiểu khu 2, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu xác định được 1 đến 2 tổ hợp ngô lai ưu tú đạt năng suất thực thu trên 85 tạ/ha, giúp tiết kiệm 20% đến 30% chi phí hạt giống cho nông dân và cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để bổ sung vào cơ cấu cây trồng bền vững của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết di truyền và nông học hiện đại:

  • Thuyết ưu thế lai (Heterosis Theory) khởi xướng từ công trình của George Harrison Shull năm 1904, chứng minh con lai F1 từ các dòng tự phối thuần chủng biểu hiện sức sống, tốc độ tăng trưởng và năng suất vượt trội 20% đến 50% so với dạng bố mẹ.
  • Lý thuyết quang hợp và tích lũy vật chất khô của thực vật C4, giải thích cơ chế quang hợp đạt hiệu suất sinh học cao của cây ngô thông qua quá trình tối ưu hóa diện tích bề mặt lá và giải phẫu lá Kranz.
  • Mô hình tương tác giữa kiểu gen và môi trường (GxE Interaction), làm cơ sở đánh giá độ ổn định di truyền, phản ứng thích nghi sinh thái của các tổ hợp lai mới khi canh tác trên đất dốc vùng Tây Bắc.

Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành then chốt gồm: tổ hợp lai đơn, chỉ số diện tích lá (LAI), tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thực tế tại đồng ruộng tuân thủ nghiêm ngặt theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-56:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô.

  • Cỡ mẫu và vật liệu: Nghiên cứu khảo sát 10 công thức thí nghiệm gồm 9 tổ hợp lai đơn ký hiệu từ VN2 đến VN12 do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo, đối chứng với giống ngô lai nhập nội NK67 của Công ty Syngenta. Mỗi công thức theo dõi định lượng trên 10 đến 30 cây mẫu đại diện.
  • Phương pháp chọn mẫu: Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14 m2 (5m x 2,8m), mật độ canh tác 57.140 cây/ha (khoảng cách hàng và cây là 70 x 25 cm). Tất cả chỉ tiêu hình thái, sinh lý và sâu bệnh được theo dõi ngẫu nhiên trên 2 hàng giữa của mỗi ô nhằm triệt tiêu hoàn toàn hiệu ứng viền.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Thiết kế RCBD được lựa chọn nhằm kiểm soát triệt để sai số do sự biến thiên độ phì của đất đỏ vàng trên địa hình đồi dốc. Số liệu sinh trưởng và năng suất được xử lý phương sai (ANOVA) qua phần mềm chuyên dụng IRRISTART phiên bản 5.0, kiểm định sai khác giá trị trung bình bằng chuẩn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LSD ở mức xác suất P < 0,05.
  • Quy trình kỹ thuật và timeline: Thực hiện xuyên suốt vụ Hè Thu 2016 (gieo ngày 27/4/2016) và vụ Hè Thu 2017 (gieo ngày 28/4/2017) với lượng phân bón đồng bộ gồm 8 tấn phân chuồng, 150 kg N, 80 kg P2O5 và 90 kg K2O trên mỗi hecta.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình theo dõi và phân tích 10 công thức thí nghiệm qua hai vụ Hè Thu liên tiếp đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Thời gian sinh trưởng và pha phát dục đồng đều: Toàn bộ 9 tổ hợp lai VN đều thuộc nhóm thời gian sinh trưởng trung bình, dao động từ 109 đến 117 ngày. Tổ hợp VN11 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất đạt 109 ngày trong vụ Hè Thu 2017, sớm hơn giống đối chứng NK67 (111 ngày) khoảng 1,8%. Khoảng cách giữa thời điểm tung phấn và phun râu của các tổ hợp lai chỉ kéo dài từ 1 đến 3 ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thụ phấn thụ tinh đạt tỷ lệ đậu hạt cao.
  • Cấu trúc hình thái thân lá và chỉ số LAI lý tưởng: Chiều cao cây đạt mức trung bình từ 189,0 cm đến 239,3 cm; chiều cao đóng bắp dao động từ 68,2 cm đến 124,8 cm. Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây đạt từ 35,1% đến 53,3%, tiệm cận tỷ lệ vàng 50% giúp cây giữ vững thế đứng. Chỉ số diện tích lá (LAI) đạt đỉnh ở tổ hợp VN6 với 4,58 m2 lá/m2 đất trong vụ Hè Thu 2016, cao hơn giống đối chứng NK67 (4,26 m2 lá/m2 đất) khoảng 7,5%.
  • Khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ ngã xuất sắc: Tất cả 9 tổ hợp lai đều thể hiện tính kháng sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) đạt thang điểm 1 đến 2, tỷ lệ hại dưới 15%. Mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) và thối thân (Fusarium spp.) duy trì ở mức an toàn sinh học. Nhờ hệ rễ chân kiềng phát triển khỏe và đường kính gốc thân lớn, tỷ lệ đổ rễ và gãy thân của các tổ hợp lai đều dưới 5% sau các đợt giông lốc.
  • Tiềm năng năng suất vượt trội: Các tổ hợp lai VN7, VN6 và VN4 đạt các yếu tố cấu thành năng suất ấn tượng với số hàng hạt trên bắp đạt 14 đến 16 hàng, số hạt trên hàng đạt 34 đến 42 hạt và khối lượng 1000 hạt đạt 290 đến 325 gram. Năng suất thực thu của các tổ hợp triển vọng đạt từ 85 tạ/ha đến trên 105 tạ/ha, tương đương giống đối chứng quốc tế NK67.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về khả năng sinh trưởng và năng suất của các tổ hợp lai đơn VN bắt nguồn từ sự kết hợp tối ưu giữa các dòng thuần ưu tú thích nghi nhiệt đới do Viện Nghiên cứu Ngô phát triển. Khi đặt trong điều kiện đất dốc tiểu khu 2 xã Cò Nòi, các tổ hợp này duy trì tốc độ tăng trưởng chiều cao cây nhanh, đạt cực đại 4,83 đến 5,84 cm/ngày ở giai đoạn 40 đến 50 ngày sau gieo.

Kết quả này hoàn toàn đồng nhất với các nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai thích nghi phía Bắc như LVN146 hay LVN092 của Viện Nghiên cứu Ngô. Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện này được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh động thái tăng trưởng chiều cao cây qua 5 giai đoạn 10 ngày và bảng ma trận đối sánh các yếu tố cấu thành năng suất, làm nổi bật mối tương quan thuận giữa chỉ số LAI với năng suất hạt thực thu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành hiệu quả kinh tế - xã hội thực tế tại vùng trồng ngô miền núi phía Bắc, đề tài đưa ra 4 khuyến nghị then chốt:

  • Tuyển chọn và mở rộng khảo nghiệm diện rộng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La cùng Trung tâm Khuyến nông tỉnh cần phê duyệt đưa 2 tổ hợp ngô lai ưu tú nhất là VN7 và VN6 vào khảo nghiệm sản xuất diện hẹp quy mô 50 đến 100 ha trong giai đoạn 2018 - 2019 tại các tiểu vùng sinh thái Mai Sơn, Yên Châu và Mộc Châu.
  • Hoàn thiện và chuẩn hóa gói kỹ thuật thâm canh đất dốc: Viện Nghiên cứu Ngô phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Mai Sơn xây dựng quy trình canh tác tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng gồm 8 tấn phân chuồng kết hợp 150 kg N, 80 kg P2O5 và 90 kg K2O cho mỗi hecta, mục tiêu nâng năng suất trung bình toàn huyện lên 55 đến 65 tạ/ha, hoàn thành trong quý II năm 2019.
  • Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm: Ủy ban nhân dân huyện Mai Sơn chủ trì kết nối các Hợp tác xã nông nghiệp với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi để ký hợp đồng bao tiêu ngô hạt thương phẩm với sản lượng mục tiêu 15.000 tấn/năm trong giai đoạn 2019 - 2022.
  • Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật và tập huấn nông dân: Trạm Khuyến nông huyện Mai Sơn định kỳ tổ chức 20 đến 30 lớp tập huấn hàng năm cho hơn 1.500 hộ nông dân, hướng dẫn mật độ gieo chuẩn 57.000 cây/ha và các biện pháp bảo quản hạt sau thu hoạch nhằm giảm tỷ lệ hao hụt xuống dưới 5%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp và nhà hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng để xây dựng cơ cấu giống cây trồng vụ Hè Thu cho hơn 159.000 ha đất ngô tỉnh Sơn La, giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu.
  • Chuyên gia chọn tạo giống và nghiên cứu viên cây lương thực: Bổ sung cứ liệu khoa học về tương tác kiểu gen - môi trường của 9 tổ hợp lai đơn trên nền đất dốc, phục vụ định hướng phát triển các giống ngô chịu hạn và chống đổ ngã.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học cây trồng, Nông học: Làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm RCBD, kỹ thuật đo chỉ số LAI theo công thức Montgomery năm 1906 và xử lý thống kê bằng phần mềm IRRISTART 5.0.
  • Doanh nghiệp sản xuất giống ngô, hợp tác xã và chủ trang trại: Cung cấp thông tin chọn lọc giống ngô lai có giá thành thấp hơn khoảng 25% so với giống ngoại mà vẫn bảo đảm tiềm năng năng suất đạt trên 85 đến 100 tạ/ha.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao nghiên cứu lại chọn địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để tiến hành khảo nghiệm? Mai Sơn là vùng trọng điểm sản xuất ngô lớn của tỉnh Sơn La với diện tích canh tác trên 20.700 ha. Địa hình nương dốc, thổ nhưỡng đất đỏ vàng và khí hậu biến động mạnh tại đây tạo môi trường áp lực cao chuẩn mực để kiểm chứng khả năng thích ứng sinh thái, tính chịu hạn và khả năng chống đổ ngã của các tổ hợp ngô lai mới.

  • Các tổ hợp lai VN có điểm gì vượt trội so với giống đối chứng NK67 nhập khẩu? Các tổ hợp lai VN có thời gian sinh trưởng 109 đến 117 ngày, chỉ số LAI đạt tới 4,58 m2 lá/m2 đất và khả năng kháng sâu đục thân điểm 1 đến 2 tương đương NK67. Quan trọng nhất, chi phí hạt giống nội địa thấp hơn 20% đến 30%, giúp tiết kiệm chi phí đầu tư ban đầu đáng kể cho người trồng ngô.

  • Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây có ý nghĩa gì đối với cây ngô? Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây tối ưu là khoảng 50% (vị trí giữa thân cây). Trong thí nghiệm, tỷ lệ này đạt từ 35,1% đến 53,3%, giúp cây phân bổ trọng tâm cân đối, giảm thiểu tỷ lệ gãy đổ xuống dưới 5% trước gió lốc và tối ưu hóa hiệu suất thụ phấn hình thành hạt.

  • Phương pháp Montgomery năm 1906 tính diện tích lá ngô trong luận văn được thực hiện như thế nào? Diện tích từng lá được tính theo công thức Chiều dài nhân Chiều rộng nhân hệ số 0,75 trên toàn bộ các lá xanh vào thời kỳ chín sữa của 10 cây mẫu. Chỉ số LAI được xác định bằng diện tích lá trên cây nhân với mật độ 57.140 cây/ha, phản ánh chính xác khả năng quang hợp của quần thể.

  • Những tổ hợp ngô lai nào được đánh giá triển vọng nhất để phát triển ra sản xuất đại trà? Tổ hợp lai VN7 và VN6 là hai ứng viên xuất sắc nhất nhờ thời gian sinh trưởng thích hợp từ 114 đến 117 ngày, tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt cực đại 5,84 cm/ngày, độ che kín bắp tốt ở điểm 1 và năng suất thực thu đạt trên 90 đến 105 tạ/ha, hoàn toàn đủ tiêu chuẩn thay thế giống ngoại.

Kết luận

  • 9 tổ hợp ngô lai mới tham gia khảo nghiệm đều thuộc nhóm thời gian sinh trưởng trung ngày (109 đến 117 ngày), phù hợp với khung thời vụ Hè Thu tại vùng miền núi phía Bắc.
  • Tuyển chọn thành công 2 tổ hợp ngô lai triển vọng là VN7 và VN6 sở hữu chỉ số diện tích lá cao (3,75 đến 4,58 m2 lá/m2 đất), tỷ lệ đóng bắp cân đối và khả năng chống đổ ngã vượt trội.
  • Khả năng kháng sâu đục thân của các tổ hợp lai đạt thang điểm 1 đến 2, mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt và thối thân ở ngưỡng an toàn sinh học dưới 5%.
  • Tiềm năng năng suất thực thu của các tổ hợp ưu tú đạt từ 85 đến trên 105 tạ/ha, tương đương giống đối chứng quốc tế NK67 nhưng chi phí hạt giống rẻ hơn đáng kể.
  • Đề tài cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác chọn tạo giống cây trồng nội địa và chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững trên đất dốc Tây Bắc.

Trong giai đoạn 2018 - 2020, các cơ quan khuyến nông cần sớm triển khai mô hình trình diễn sản xuất thử nghiệm tại 5 huyện trọng điểm của tỉnh Sơn La. Hãy kết nối ngay với nhóm nghiên cứu và Trung tâm Khuyến nông địa phương để tiếp cận nguồn vật liệu giống ngô lai mới cùng quy trình thâm canh tiến bộ.