Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm một số giống lợn nuôi tại Bắc Kạn 1. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn địa phương Giống lợn Địa phương có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc. Chúng có những ưu điểm nổi bật như rất phù hợp với điều kiện tự nhiên miền núi phía Bắc, điều kiện canh tác của nhân dân miền núi, khả năng chịu đựng kham khổ cao, thích hợp với phương thức chăn thả.
Một số giống lợn đẻ nhiều con và có chất lượng thịt thơm ngon, một số giống thích nghi với vùng núi cao, nhiệt độ thấp và một số lại quen với môi trường ẩm ướt (Lê Viết Ly, 1994) [15] và (Nguyễn Văn Đức và cộng sự, 2004) [10]. Tuy nhiên, chúng cũng có nhiều nhược điểm như ngoại hình xấu, lưng võng, bụng xệ, tầm vóc nhỏ, đẻ ít con, sinh trưởng chậm. Mặc dù có một số nhược điểm như vậy, nhưng đây vẫn là vật nuôi được người dân địa phương ưa chuộng và nuôi nhiều. Do một số quan niệm chưa khoa học của người dân trong công tác chọn giống và chăm sóc nuôi dưỡng, cùng với xu thế phát triển hiện nay, với trào lưu phát triển của các giống lợn nhập nội có năng xuất cao đã tạo ra các giống lợn lai với ưu thế hơn hẳn thì các giống lợn bản địa có xu hướng bị thu hẹp dần.
Đặc biệt với nhóm lợn đen tuyền của giống lợn bản địa nuôi tại Bắc Kạn, do những đặc điểm ưu việt về chất lượng thịt được người tiêu dùng ưa chuộng cho nên xu thế tuyệt chủng đang dần hiện hữu. Vì vậy, chúng ta cần tìm ra các biện pháp bảo tồn và phát triển các giống lợn Địa phương. Đặc điểm của giống lợn Địa phương nuôi tại tỉnh Bắc Kạn: Dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm 3 nhóm như sau: * Nhóm đen tuyền Toàn thân đen tuyền, nhóm này tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc Mông và dân tộc Dao.
4 Hiện nay, số lượng còn không nhiều chỉ chiếm từ 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt, (Chi cục Thú y tỉnh Bắc Kạn, 2016) [3]. Nguyên nhân là do mặc dù có khối lượng nhỏ, lớn chậm nhưng thịt ngon, nên nhiều người tìm mua bán về dưới xuôi, làm suy giảm đáng kể số lượng đàn lợn. Cần có biện pháp bảo tồn tránh nguy cơ tuyệt chủng. * Nhóm lợn đen có một số điểm trắng Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 chân, giữa trán và đuôi có nhúm lông màu trắng, được nuôi nhiều ở vùng bà con dân tộc H'mông và dân tộc Dao.
Nhóm lợn này, được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm đen tuyền. Về số lượng đàn lợn này chiếm tỷ lệ tương đối cao trong đàn lợn địa phương. Trong đàn lợn nái, nhóm lợn đen có một số điểm trắng chiếm từ 40,24% - 58,33%; đối với đàn lợn thịt chiếm từ 30,99% - 43,79%. * Nhóm lợn lang trắng đen Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ thường phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi; phần còn lại có da và lông màu đen.
Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít. Nhóm lợn này chiếm từ 33,34% - 53,66% tổng đàn lợn nái và từ 52,29 - 66,59% tổng đàn lợn thịt địa phương. Nhìn chung, nhóm lợn lang trắng đen này có tầm vóc to hơn và lớn nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống, (Nguyễn Văn Nơi, 2010) [17]. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn Móng Cái Lợn Móng Cái có nguồn gốc từ huyện Đầm Hà và huyện Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Lợn Móng Cái là giống lợn nội được nuôi hầu hết ở các tỉnh Miền Bắc, Miền Trung và một số tỉnh Tây Nguyên. Đặc diểm của lợn Móng Cái có mình ngắn, cổ ngắn, tai nhỏ, lưng võng, bụng sệ. Phần lớn cơ thể có màu đen, trừ 6 điểm trắng đó là một đốm trắng 5 hình tam giác hoặc hình thoi giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi có chùm lông màu trắng, bụng trắng và bốn chân trắng. Đặc biệt, mỗi khoang trắng nối giữa 2 bên hông với nhau vắt qua vai giống hình yên ngựa là nét đặc trưng nhất về màu sắc của giống lợn Móng Cái (Nguyễn Thiện và cộng sự, 2005) [25].
Lợn Móng Cái có tầm vóc trung bình, khối lượng lúc 8 tháng tuổi đạt 65-75kg; khả năng sinh trưởng chậm: 2 tháng tuổi nặng 6,0 kg, 10 tháng tuổi đạt khoảng 80-85kg, khối lượng lợn trưởng thành đạt 140-170 kg/con, cá biệt có con tới 200 kg nhưng thời gian nuôi rất lâu. Lợn Móng Cái là giống lợn phát dục sớm, ở lợn cái 5 tháng tuổi, lợn đực 4 tháng tuổi có khả năng phối giống và có thai. Lúc này trong tinh dịch của lợn đực đã có tinh trùng, lượng tinh dịch 80- 100 ml, nhìn chung đây là giống lợn có khả năng sinh sản tốt nhất trong số các giống lợn nội Việt Nam. Lợn Móng Cái có từ 8-16 vú, thông thường là 12 vú.
Số con sơ sinh mỗi lứa cao (11-13 con), khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 165-175 ngày, lợn nái đẻ 2,1-2,2 lứa/năm, có khả năng nuôi con khéo. Khối lượng sơ sinh thấp khoảng 0,5-0,6 kg/con. Tăng trưởng chậm, tốc độ tăng khối lượng nuôi thịt trung bình đạt 330g/con/ngày, giao động từ 200- 400g/con/ngày. Tỷ lệ thịt móc hàm thấp 70-75%, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ 33-35%, tỷ lệ mỡ/thịt xẻ 35-38%, tiêu tốn thức ăn cao 4,0-4,5kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
Lợn Móng Cái dễ nuôi, có khả năng thích ứng với hầu hết môi trường sinh thái của Việt Nam, kể cả nơi có điều kiện chăn nuôi chưa phát triển, môi trường sinh thái chưa tốt. Lợn Móng Cái ăn tạp có khả năng ăn được hầu hết các loại thức ăn, tận dụng được hầu hết các nguồn thức ăn dư thừa và các loại thức ăn chất lượng thấp, có sức kháng bệnh cao (Nguyễn Thiện và cộng sự, 2005) [25]. Khả năng sản xuất và hướng sử dụng: Lợn Móng Cái chủ yếu làm lợn nái nền cho phối giống với đực giống ngoại để khai thác ưu thế lai, nhằm phát huy những gen sinh sản tốt. Ngoài việc sử dụng làm cái nền còn dùng lợn Móng Cái lai với các giống lợn nhập nội như: Yorkshire, Landrace tạo ra đàn 6 nái lai để tạo các tổ hợp lai 3 hoặc 4 máu nuôi thịt để đạt tăng khối lượng và tăng tỷ lệ nạc cao, chất lượng thịt thơm ngon và hiệu quả kinh tế nhờ khai thác tối đa ưu thế lai đối với các tính trạng sản xuất.
Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn Meishan Trung Quốc Giống lợn Meishan có nguồn gốc từ vùng hồ và thung lũng của Trung Quốc, chúng được xem như lợn Taihu từ hồ Taihu, Fengjing và Minzhu, giữa miền Bắc và miền Trung của Trung Quốc, một số vùng ven sông Chang Jiang bờ biển phía Đông Nam. Giống lợn Meishan được nhập 2 đợt về Việt Nam vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 theo dự án DA15. Giống lợn này có màu đen, mặt và da nhăn, lông đen toàn thân và có vành lông trắng vắt qua vai bao gồm cả chân trước và ngực. Da dày màu đen đặc trưng, tai kích thước to, dài và rủ về phía trước.
Lợn có đầu nhỏ thanh, cổ dài và hẹp thân. Lợn Meishan có nhiều vú, thành thục sinh dục sớm. Con nái trông bề ngoài thì dữ dằn nhưng lại rất hiền và nuôi con rất tốt. Toàn thân trông chắc chắn và vận động tốt, thích hợp với hệ thống chăn nuôi chăn thả trên đồng cỏ.
Khối lượng tương đối lớn so với các giống lợn châu Á. Lợn nái trưởng thành có chiều cao 57,8 cm, vòng ngực 100 cm và khối lượng 61,6 kg. Tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 66,8%, tỷ lệ mỡ cao. Tuổi động dục 2,5 - 3 tháng tuổi, đạt tỷ lệ phôi sống cao.
Lợn có khả năng sinh sản rất tốt, đẻ trung bình 15 - 16 con/lứa, có khi 20 - 22 con, bình quân 2,2 lứa/năm. Lợn Meishan có 8 - 9 cặp vú. Thành thục về sinh dục sớm (lúc 3 tháng tuổi), đẻ nhiều con, lợn nái hiền lành, nuôi con tốt. Lợn có khả năng tăng khối lượng tương đối tốt (Chu M và cộng sự, 2003) [32].
Giống Meishan từ Trung Quốc có khả năng tăng trưởng chậm hơn so với các giống châu Âu và có tỷ lệ mỡ cao hơn nhưng thịt lợn Meishan có mùi vị thơm ngon, ngoài ra giống lợn này có khả năng chống chịu bệnh tật tốt do 7 các đặc điểm khác biệt của hệ thống miễn dịch bẩm sinh được quy định một số gene (Bùi Thị Tư, 2015) [27]. Đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn đực rừng Lợn rừng là giống lợn hoang dã được thuần hóa ở Việt Nam và ở một số nước khác. Lợn rừng thường có hai nhóm giống: nhóm giống mặt dài và nhóm giống mặt ngắn. Lợn rừng Việt Nam , thuộc giống lợn mặt dài, có thân hình cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, mũi rất thính và khỏe, da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng hay cổ dày, dài và cứng hơn… Vai thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn và chỉ dài đến kheo.
Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ. Lợn Rừng thường đẻ ít con, mỗi lứa đẻ từ 3 - 5 con. Khối lượng lợn sơ sinh bình quân 0,5 - 0,9 kg/con. Lợn con có bộ lông sọc dưa (vệt lông màu vàng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu).
Khi lợn con trên 3 tháng tuổi, các vệt sọc dưa này không còn nữa. Khối lượng bình quân lúc trưởng thành, con đực nặng 80 - 100 kg, con cái nặng 50 - 70 kg. Lợn Rừng 7 - 8 tháng tuổi, thể trọng 30 - 40 kg (với con cái có thể cho phối giống, con đực có thể cho phối giống sau hơn 1 - 2 tháng). Thời gian mang thai cũng như lợn nhà (khoảng 114 - 115 ngày).
Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 1 - 2 giờ. Quá trình đẻ diễn ra tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người (Hoàng Văn Hùng, 2014) [30], Marsico G và cộng sự (2007) [36].