Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây cải xanh 1.1 Nguồn góc, phân loại Nguồn gốc Về nguồn gốc phát sinh của cải xanh, nghiên cứu của Sheng và ctv (2011) đã khẳng định giả thuyết của Vavilov’s (1949) rằng trung tâm khởi nguyên của cải xanh là vùng Trung Á và trung tâm thứ 2 là miền Trung, Tây Trung Quốc và miền Đông Ấn Độ (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Loan, 2018). Phân loại Ho cải (Brassicaceae) có khoảng 375 chi và 3200 loài. Chi Brassica chứa khoảng 100 loài bao gồm cải đầu, cải bắp, súp lơ, bông cải xanh, cải bruxen, củ cải, cải mù tạt. Số nhiễm sắc thé trong họ cải dao động từ 2n = 8 đến 2n = 256 (Lysak và ctv, 2005).
Ở nước ta họ cải có 6 chi và 20 loài (Hoàng Thị Sản, 1999). Căn cứ vào đặc điểm của cuống lá, phiến lá (kích thước, hình dạng, màu sắc.các giống rau cải của nước ta hiện nay được phân thành 3 nhóm: Nhóm cải be (Brassica campesris L.), Nhóm cải thìa/ cải trang (Brassica chinensis L.), Nhóm cải xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L. Nhóm cải xanh có khả năng chịu được nóng và mưa to, nhóm cải này có khả năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt vụ Xuân Hè và vụ Thu Đông. Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn.
Phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên gọi là cải cay, dễ dé giống. Giới: Plantae Bộ: Brassicales Họ: Brassicaceae Chi: Brassica Loài: Brassica juncea (L.2 Rau cải xanh Cải xanh có tên khoa hoc là Brassica juncea (L) thuộc họ thập tự. Cải xanh có cuống lá nhỏ và hơi tròn, phiến lá nhỏ và hẹp bản lá nhỏ có màu từ xanh vàng đến xanh đậm, chịu nóng và mưa khá nên trồng vụ xuân hè dé chống giáp vụ rat tốt (Nguyễn Văn Thắng, Trần Khắc Thi, 1996). Theo Phạm Thị Minh Tâm (2001), cải xanh là cây thân thảo hằng niên, cao 40 - 60 cm hoặc có thé cao hơn.
Là loại rau có vị đăng đắng (thường gọi là cải đắng), lá có màu xanh đậm hoặc xanh non chuối. Lá mọc từ gốc, cuống lá hơi tròn và nhỏ, phiến lá nhỏ hẹp, có răng cưa không đều. Hoa mọc thành chùm dạng ngủ, hoa có 4 cánh màu vàng. Hạt hình cầu màu đen trồng phổ biến khắp cả nước.
Cải xanh là loại cây chịu được nóng và mưa, nhanh cho thu hoạch nên có tác dụng giải quyết giáp vụ rất hiệu quả. Rau cải xanh có thời gian từ gieo trồng đến thu hoạch là 40 - 45 ngày. Ở mỗi vùng địa lý khác nhau, cải xanh được trồng với mục đích khác nhau. Theo Chen và ctv (1997), ở Trung Quốc và Nhật Bản, cải xanh được xem như là một loại rau ăn lá.
Tuy nhiên ở Canada nó là loài cây được dùng làm gia vị. Trong khi ở Ấn Độ, cải xanh được trồng dé lay dầu. Cải xanh còn có thé sử dụng dé loại bỏ kim loại Pb ở trong đất bị ô nhiễm. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Xuân Cự và ctv (2008) cũng cho thấy việc sử dụng cải xanh dé loại bỏ một số kim loại nặng trong đất bị ô nhiễm là hoàn toàn khả thi (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Loan, 2018).
về giá trị dược liệu của cây cải xanh, theo Đông y cải xanh có vi cay, tính ôn, có tác dụng giải cảm hàn, thông đàm, lợi khí. Trong cải xanh có chứa nhiều vitamin A, B, C, K, axit nicotic, caroten, abumin. Theo các chuyên gia dinh dưỡng cải xanh có thé chữa được bệnh gout, chống lão hoá da cũng như có thé trị được viêm họng (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Loan, 2018).3 Một số bệnh hại chính trên rau cải xanh Bệnh sưng rễ: do nắm Plasmodiophora brassicae Wor gây ra, nam xâm nhập gây hại ở rễ, tạo thành các nốt sưng u trên rễ với kích thước khác nhau, cây bị bệnh sinh trưởng kém, lá vàng và héo, bi nặng cây có thé chết. Đặc biệt trong điều kiện khô hạn, hiện tượng vàng héo lá xảy ra nhanh hơn, trên lá không tạo thành các vết khô cháy nếu 4 không bị bệnh nào khác.
Theo Vũ Triệu Mân và ctv (2007), bệnh gây hại ở rễ và gốc thân nằm sâu trong đất tạo ra các u sưng nồi cục san sùi, xuất hiện từng đoạn hoặc kéo dài cả rễ. Các u sưng lúc đầu có màu sắc tương tự như màu rễ cây, bề mặt nhẫn, bên trong ruột trang va cứng. Sau thời gian u sưng chuyền sang màu nâu và thối mục. Sau khi rễ bị hại, lá chuyển sang vàng, dày thô, lá mất độ nhẫn bóng, cây chết héo dan.
Bệnh thối nhin: bệnh do vi khuan Erwinia carotovora gây ra. Vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở các cuống lá già phía dưới gần mặt dat, tạo thành những mong nước, sau đó thối nhũn. Vết bệnh theo cuống lá phát triển lên trên làm cho cả lá bị vàng và thối nhũn. Các lá phía trên cũng có thé bị bệnh và cả cây bị thối.
Ở các chỗ mô cây bị thối chứa đầy dịch màu vàng, có mùi hôi nồng. Điều kiện thời tiết nóng, âm và mưa nhiều thuận lợi cho bệnh phát triển. Những ruộng thoát nước kém, bón nhiều phân đạm, thiếu kali thường bị bệnh nặng hơn. Ruộng bị sâu nhiều cũng là điều kiện tốt cho bệnh lây lan gây hại.
Bệnh đốm lá: Theo Lowel (2000), bệnh đốm lá trên rau cải do vi khuẩn Xanthomonas campestris p.V armmoraciae gây ra, xuất hiện trên tat cả các cây trồng thuộc họ thập tự và một vài giống cải hoang dại. Triệu chứng của bệnh là xuất hiện các đốm trên lá thật, đôi khi bệnh cũng xuất hiện trên lá mầm, cuống lá. Các đốm xuất hiện rải rác khắp bề mặt lá do sự xâm nhiễm qua lỗ khí không của lá hoặc ria mép là do quá trình xâm nhiễm qua thuỷ khổng. Đốm bệnh ban dau là các cham sung nước, màu xanh giọt dầu, về sau triệu chứng điển hình đường kính đốm bệnh có thê tới 3 mm và có dạng tròn lõm xuông so với bê mặt lá.
Bệnh đốm vòng: do nam Alternaria brassicae Sace gây ra. Bệnh có thê gây hại từ giai đoạn cây con đến giai đoạn gần thu hoạch, bảo quản. Trên cây con, vét bệnh thường xuất hiện trên lá sò và thân non, màu đen hình tròn hoặc bất định, bệnh nặng làm cây chết. Trên cây đã lớn vết bệnh hình thành trên lá hình tròn, có nhiều vòng đồng tâm, màu nâu nhạt hoặc nâu xam, xung quanh có thê có quang vàng.
Vết bệnh rất lớn đường kính có khi tới 1 em, nhiều vết bệnh có thể liên kết với nhau thành hình bat định. Khi gặp trời âm ướt trên bề mặt vết bệnh thường hình thành một lớp nắm mốc màu đen. Trong điều kiện trời âm ướt, trên mặt vết bệnh thường hình thành lớp nam mốc mau đen. Nam gây bệnh có thé xâm nhập vào trong cây qua các vet thương cơ giới do mưa gió hoặc do con người tao ra trong quá trình chăm sóc hoặc do vết can phá của côn trùng.
Bệnh lở cỗ rễ: do nam R. solani Kuhn gây hại. Bệnh phát triển gây hai nặng trong mùa mưa. Vết bệnh có màu tái xanh sau chuyền sang xám và loang lỗ trên khắp mặt lá.
Trên bề mặt vết bệnh xuất hiện tơ nam và hạch nắm màu trang sau đó chuyền sang nâu. Ở những ruộng có mật độ trồng dày và bón phân nhiều đạm và lân, bệnh gây hại nặng. Theo Đào Hang Trang (2007) bệnh lở cô rễ do nam R. solani Kuhn gây ra.
Biểu hiện của bệnh là thắt cô rễ, thối rễ, thối chân, phần thân sát mặt đất thối mềm. Nắm có khả năng xâm nhiễm trên thân, cành, lá, khi tiếp xúc với đất âm ướt và điều kiện khí hậu nóng âm. Triệu chứng thay đổi tuỳ thuộc vào thời kỳ xâm nhiễm.2 Một số đặc điểm của nắm R.1 Vị trí phân loại nắm R. solani Giới: Fungi Ngành: Basidiomycotina Lop: Basidiomycetes Bộ: Mycelia sterilia Ho: Thelephoraceae Chi: Rhizoctonia Loai: Rhizoctonia solani (R.
solani còn được mô tả dưới nhiều tên khác nhau. Các tên được chap nhận là đồng nghĩa với R. typical, Sclerotium irregular và S.2 Phé ky chủ của nấm R. solani hiện diện rất phổ biến trong đất và có phé ký chủ rộng.
Cây trồng ở quốc gia nào cũng có bệnh do nam R. solani gây ra. Haque (1975) đã phát hiện ra đậu phong (Arachis hypoaea), ớt (Capcium annum), cà rốt (Daucus carota), đậu nành (Glycine max), bông vai (Gossypium sp.), dai mạch (Hordeum vulgar), xà lách (Lactuca sativa), lúa (Oryzae sativa), bap (Zea mays), cà chua (Lycopersicum esculentum) đều nhiém R. Nhiều loài thực vật thuộc nhóm một và hai lá mầm mọc trong và xung quanh ruộng lúa, dọc theo kênh mương là đồng ký chủ và là nguồn lây bệnh cho cây lúa.
Ở Việt Nam, Kim và ctv (1981) đã ghi nhận đậu nành, bắp, lúa miễn (Shorgum vulgare), mía, và 27 loài cỏ dại khác ở đồng bang sông Cửu Long là ký chủ của nam R. Ở Hoa Ki, có khoảng 550 loài ký chủ của nắm R. solani đã được ghi nhận. solani gây bệnh chủ yếu trên cây lúa, một số loại cây trồng và một số cỏ ngoài tự nhiên thuộc họ hòa bản, họ hoa thập tự, họ ca, ho dưa, họ bau bí, họ bìm bìm (N guyén Viét Long, 2001).3 Đặc điểm hình thái, sinh học của nam R.
solani có rất nhiều loại nấm R. solani thuộc lớp nam bất toàn (Deuteromyces), là loại gây hại phổ biến trên nhiều loại cây trồng. Ở giai đoạn sinh trưởng hữu tính loài này có tên gọi là Thanatephorus cucumeris thuộc lớp nam đảm (Basidiomycetes), được phát hiện rất sớm từ khi có sự ra đời của kính hiển vi bởi Kuhn, nam phát trién nhanh, phân nhánh tại điểm gần vách ngăn giữa hai tế bao và vuông góc với sợi nắm chính (Mezies, 1970). Nam R solani thuộc nhóm nắm trong đất, xác bã thực vật khi thu hoạch mà không cần có cây kí chủ.
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nắm, nam có thé tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ 5 - 42°C, trong đó nắm phát triển mạnh nhất ở nhiệt độ 30°C, nhiệt độ tối thiểu 5 - 10°C, nhiệt độ tối đa 40 - 42°C (Parmeter, 1970). Theo Masumoto va ctv (1993) nhiệt độ tối thích với sự phát triển của nắm R. solani là 28 - 31°C, ngưỡng pH tối thiểu là 4, tối thích 5 - 7 và tối đa là 8. Trong đất, nắm có thể tồn tại ở nhiệt độ 7 từ 5 - 42°C (Parmeter, 1970), hạch nam tôn tại được trong đất khô và âm ít nhất được 130 ngày, khi ngâm trong nước nóng ở độ sâu 8 cm sống được 224 ngày.