Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình năm dao động phổ biến từ 1400 đến 2400mm, tạo ra nguồn tài nguyên nước dồi dào nhưng đồng thời tiềm ẩn hiểm họa thiên tai khôn lường. Những đợt mưa lớn cực đoan thường xuyên gây ra lũ ống, lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến an ninh lương thực của quốc gia có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng nhóm đầu thế giới cũng như an toàn vận hành mạng lưới thủy điện dầy đặc. Trong bối cảnh đó, bài toán dự báo mưa hạn nội mùa đến mùa (S2S) trong khoảng thời gian từ 2 tuần đến 2 tháng đóng vai trò then chốt nhưng luôn là thách thức khoa học lớn, bởi khoảng thời gian này đã mất dần ký ức về điều kiện ban đầu của khí quyển nhưng lại quá ngắn để phản ánh trọn vẹn tương tác chậm từ bề mặt đại dương. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khí tượng học của tác giả Đặng Hải Yến, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Công Thanh tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết này. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện khả năng dự báo mưa hạn nội mùa từ mô hình toàn cầu ECMWF cho 7 vùng khí hậu đặc trưng của Việt Nam thông qua chuỗi số liệu 20 năm giai đoạn 2001-2020. Đề tài thực hiện kiểm chứng chi tiết các hạn dự báo từ 1 đến 6 tuần đối với tổng lượng mưa tích lũy 7 ngày, so sánh trực tiếp với bộ số liệu mưa vệ tinh CMORPH và mạng lưới 113 trạm quan trắc mặt đất. Kết quả đánh giá cung cấp bức tranh định lượng chính xác về sai số hệ thống, độ tin cậy xác suất và tiềm năng ứng dụng thực tiễn của sản phẩm dự báo S2S, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho công tác phòng chống thiên tai và tối ưu hóa quản lý nguồn nước quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết dự báo hạn nội mùa đến mùa (S2S), một định hướng đột phá do Chương trình Nghiên cứu Thời tiết Thế giới và Chương trình Nghiên cứu Khí hậu Thế giới đồng khởi xướng nhằm lấp đầy khoảng trống giữa dự báo thời tiết hạn vừa (dưới 15 ngày) và dự báo khí hậu theo mùa. Về mặt động lực học, dự báo S2S khai thác tương tác phi tuyến giữa hoàn lưu khí quyển quy mô lớn, dao động nội mùa nhiệt đới Madden-Julian và các chế độ dao động bề mặt biển như El Niño - Dao động Nam. Đề tài kết hợp chặt chẽ hai trường phái dự báo: dự báo tất định nhằm xác định giá trị lượng mưa cụ thể và dự báo tổ hợp xác suất gồm 11 thành phần để mô phỏng mức độ bất định của trạng thái khí quyển. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung lý thuyết thống kê cực trị khí hậu, xác định các đợt mưa cực đoan dựa trên ngưỡng phân vị thứ 90 của lượng mưa tích lũy 7 ngày xuyên suốt chuỗi dữ liệu 20 năm, làm thước đo chuẩn mực đánh giá năng lực dự báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu, đề tài thu thập và xử lý toàn bộ chuỗi số liệu dự báo lại 20 năm từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2020 của mô hình toàn cầu ECMWF với hạn dự báo 45 ngày, bước thời gian tích lũy 7 ngày (tương ứng 6 lead time) và tần suất 2 phiên mỗi tuần. Tập số liệu dự báo gồm 11 thành phần tổ hợp được nội suy từ độ phân giải 32km về mạng lưới ô lưới 0.125 độ, tương đương khoảng 13km. Dữ liệu kiểm chứng độc lập bao gồm bộ số liệu mưa vệ tinh vi sóng kết hợp hồng ngoại CMORPH độ phân giải 8km (nội suy về 0.25 độ) và chuỗi quan trắc thực đo liên tục tại 113 trạm khí tượng phân bố đại diện trên 7 vùng khí hậu Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật phân tầng không gian và thời gian: toàn bộ chuỗi quan sát được chia thành 4 thời kỳ khí hậu gồm các tháng mùa đông (DJF), mùa xuân (MAM), mùa hè (JJA) và mùa thu (SON), đồng thời phân tách theo 7 tiểu vùng địa hình từ Tây Bắc đến Nam Bộ. Lý do lựa chọn hệ thống phân tích đa chỉ số là sự kết hợp bổ trợ lẫn nhau: các chỉ số tất định gồm sai số trung bình (ME), sai số tuyệt đối trung bình (MAE) và sai số quân phương (RMSE) cho phép định lượng độ lệch biên độ và xu hướng dự báo khống hay dự báo thiếu; trong khi các công cụ xác suất gồm đường cong ROC, diện tích AUC và điểm kỹ năng Brier (BSS) tại 3 ngưỡng mưa 25mm, 50mm, 100mm/7 ngày giúp đánh giá khách quan khả năng phát hiện biến cố cực trị của mô hình tổ hợp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ sai số của mô hình ECMWF có mối tương quan thuận rõ rệt với quy mô lượng mưa thực tế theo từng mùa khí hậu. Trong các tháng mùa khô DJF, khi lượng mưa trung bình tháng chỉ đạt từ 50 đến 100mm, sai số tuyệt đối trung bình (MAE) trên phần lớn lãnh thổ duy trì ở mức thấp từ 30 đến 40mm. Ngược lại, vào các tháng cao điểm mùa hè JJA, lượng mưa tại các vùng Bắc Bộ tăng vọt lên 400 đến 900mm/tháng, kéo theo sai số MAE tăng mạnh lên khoảng 160 đến 200mm.

Thứ hai, xu hướng sai số trung bình (ME) thể hiện đặc tính phân hóa theo chế độ ẩm. Trong mùa khô DJF, chỉ số ME thiên dương trên hầu hết các vùng khí hậu, phản ánh tình trạng mô hình có xu hướng dự báo khống lượng mưa so với quan trắc thực tế. Tuy nhiên, khi bước vào cao điểm mùa mưa JJA và SON, ME chuyển sang thiên âm rõ nét tại các tâm mưa lớn ở vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, cho thấy mô hình dự báo thấp hơn lượng mưa thực đo tại các sự kiện mưa lớn cục bộ.

Thứ ba, kỹ năng dự báo suy giảm tuyến tính theo thời gian dự báo trước. Tại lead time 1 và lead time 2 (tuần 1 và tuần 2), mô hình thể hiện kỹ năng dự báo vượt trội với chỉ số diện tích dưới đường cong AUC vượt ngưỡng 0.70 tại ngưỡng mưa 25mm/7 ngày. Kể từ tuần 3 trở đi, giá trị BSS và AUC suy giảm nhanh chóng, tiệm cận ngưỡng không còn kỹ năng hữu ích ở tuần 5 và tuần 6.

Thứ tư, khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ trong các tháng mùa thu SON ghi nhận sai số MAE cao kỷ lục cả nước, đạt mức 300mm tại dải ven biển Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế do chịu tác động kép của không khí lạnh tăng cường và xoáy thuận nhiệt đới.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sai số lớn tại các khu vực địa hình dốc như Thừa Thiên Huế hay vùng núi Tây Bắc bắt nguồn từ việc mô hình hoàn lưu toàn cầu dù đã nội suy về 0.125 độ vẫn chưa giải quyết trọn vẹn hiệu ứng địa hình chắn gió cục bộ. Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu quốc tế của Li và Robertson, hay De Andrade tại khu vực châu Phi và Nam Mỹ, khẳng định quy luật chung rằng kỹ năng dự báo S2S của ECMWF đạt độ tin cậy tối ưu trong khoảng 14 ngày đầu và phụ thuộc chặt chẽ vào mùa khí hậu.

Để trực quan hóa hiệu quả các phát hiện này trong báo cáo học thuật, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua hệ thống bảng so sánh đa chỉ số (MAE, ME, RMSE) giữa 7 vùng khí hậu theo từng bậc thời gian 7 ngày. Đồng thời, việc ứng dụng biểu đồ đường cong ROC kết hợp biểu đồ diện tích AUC đa ngưỡng (25mm, 50mm, 100mm) và bản đồ nhiệt (Heatmap) thể hiện phân bố điểm kỹ năng BSS trên toàn lãnh thổ sẽ cung cấp cái nhìn trực quan, giúp các chuyên viên khí tượng nhanh chóng nhận diện vùng không gian và khoảng thời gian dự báo đáng tin cậy.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng sản phẩm dự báo S2S của ECMWF vào thực tiễn dự báo khí tượng thủy văn tại Việt Nam, bốn nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất như sau:

Một là, thiết lập quy trình hiệu chỉnh sai số thống kê hậu xử lý bằng phương pháp khớp phân vị phi tham số kết hợp thuật toán học máy. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cần chủ trì triển khai giải pháp này nhằm giảm sai số tuyệt đối trung bình (MAE) từ 20% đến 30% đối với các hạn dự báo từ 1 đến 3 tuần, hoàn thành thử nghiệm nghiệp vụ trong vòng 12 tháng.

Hai là, tích hợp bản tin dự báo xác suất tổ hợp 11 thành phần vào hệ thống cảnh báo sớm thiên tai hạn vừa và hạn nội mùa. Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống Thiên tai phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng kịch bản ứng phó trước 14 ngày cho các đợt mưa cực đoan vượt ngưỡng phân vị 90, thí điểm áp dụng tại 7 tỉnh trọng điểm miền núi phía Bắc và miền Trung trong giai đoạn 18 tháng tới.

Ba là, mở rộng và chuẩn hóa mạng lưới kiểm định tự động thông qua việc kết nối hơn 1000 trạm đo mưa tự động với mạng lưới 113 trạm khí tượng truyền thống. Tổng cục Khí tượng Thủy văn cần chỉ đạo thực hiện nâng cấp hệ thống máy chủ đồng hóa dữ liệu, đảm bảo cập nhật độ trễ kiểm chứng dưới 30 phút trong mốc thời gian 2024-2026.

Bốn là, ứng dụng kết quả dự báo tổng lượng mưa tuần vào quy trình vận hành liên hồ chứa thủy điện và thủy lợi. Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp thiết lập mô hình điều tiết đón lũ linh hoạt, đặt mục tiêu tối ưu hóa 15% dung tích phòng lũ trước các đợt mưa lớn từ 7 đến 10 ngày, triển khai đồng bộ từ quý 3 năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và giá trị cho bốn nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Khí tượng học, Thủy văn học và Biến đổi khí hậu. Nhóm đối tượng này có thể khai thác phương pháp luận đánh giá dự báo tổ hợp, cách tiếp cận chuỗi số liệu 20 năm và quy trình tính toán các chỉ số xác suất ROC, BSS làm khuôn mẫu cho các công trình nghiên cứu hàn lâm tiếp theo.

Thứ hai, đội ngũ dự báo viên tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và các Đài Khí tượng Thủy văn khu vực. Tài liệu cung cấp căn cứ định lượng về sai số hệ thống trên từng tiểu vùng và từng mùa, giúp dự báo viên chủ động hiệu chỉnh kinh nghiệm khi sử dụng sản phẩm ECMWF trong ca trực tác nghiệp hàng ngày.

Thứ ba, cán bộ quản lý tại các cơ quan phòng chống thiên tai từ trung ương đến địa phương. Nghiên cứu mang lại cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch ứng phó sớm trước 2 đến 4 tuần đối với nguy cơ lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất diện rộng.

Thứ tư, kỹ sư vận hành công trình thủy điện và quản lý tài nguyên nước. Bản đánh giá lượng mưa tuần hỗ trợ tính toán lưu lượng dòng chảy về hồ chứa, nâng cao hiệu quả sản xuất điện và an toàn đập.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình ECMWF đạt độ chính xác cao nhất ở hạn dự báo nào tại Việt Nam? Mô hình thể hiện kỹ năng dự báo vượt trội nhất ở hạn dự báo tuần 1 và tuần 2, tức lead time 1 và 2. Trong khoảng thời gian 14 ngày này, diện tích dưới đường cong AUC đạt trên 0.70 đối với ngưỡng mưa 25mm/7 ngày. Sau tuần thứ 2, kỹ năng dự báo suy giảm đáng kể và giảm dần độ tin cậy ở tuần 5 và tuần 6.

Vì sao sai số MAE của mô hình đạt giá trị cao nhất tại dải miền Trung vào mùa thu? Vào các tháng mùa thu (SON), khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ chịu tác động tổng hợp của địa hình đón gió Trường Sơn, không khí lạnh và bão nhiệt đới, gây mưa cực đoan trên 700mm/tháng. Độ phân giải 32km của ECMWF chưa mô phỏng hết hoàn lưu quy mô nhỏ, dẫn đến sai số MAE lên tới 300mm tại Thừa Thiên Huế.

Dự báo tổ hợp mang lại lợi thế gì so với dự báo tất định đơn lẻ trong nghiên cứu này? Dự báo tổ hợp 11 thành phần của ECMWF cho phép định lượng mức độ bất định của khí quyển thay vì chỉ đưa ra một giá trị duy nhất. Thông qua các chỉ số xác suất như BSS và đường cong ROC, người dùng có thể đánh giá tỷ lệ xuất hiện các đợt mưa cực đoan vượt ngưỡng phân vị 90 để ra quyết định phù hợp.

Bộ số liệu mưa vệ tinh CMORPH đóng vai trò gì trong quá trình đánh giá mô hình? CMORPH là bộ số liệu ước tính lượng mưa vi sóng kết hợp hồng ngoại toàn cầu với độ phân giải cao 8km. Bộ số liệu này cung cấp bức tranh mưa liên tục theo không gian và thời gian trong suốt 20 năm (2001-2020), đóng vai trò làm dữ liệu kiểm chứng khách quan để tính toán sai số MAE và RMSE trên từng điểm lưới.

Tại sao mô hình ECMWF lại có xu hướng dự báo khống lượng mưa trong mùa khô? Trong các tháng mùa đông (DJF), lượng mưa thực tế trên phần lớn lãnh thổ Việt Nam rất nhỏ, chỉ khoảng 50 đến 100mm/tháng. Khi điều kiện khí quyển khô hanh chiếm ưu thế, mô hình có xu hướng kích hoạt tham số hóa đối lưu hơi ẩm quá mức, dẫn đến chỉ số sai số trung bình ME mang giá trị dương ở hầu hết các vùng.

Kết luận

Nghiên cứu đánh giá khả năng dự báo mưa từ mô hình ECMWF cho khu vực Việt Nam đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật, tóm lược qua 5 điểm then chốt:

  • Đánh giá toàn diện chuỗi dữ liệu 20 năm (2001-2020) với 11 thành phần tổ hợp cho 7 vùng khí hậu đặc trưng.
  • Xác định rõ hạn dự báo vàng trong 1 đến 2 tuần đầu đạt độ tin cậy cao, trước khi suy giảm dần ở tuần 3 đến tuần 6.
  • Làm sáng tỏ quy luật phân hóa sai số theo mùa với sai số MAE cực đại đạt 300mm tại miền Trung vào các tháng mùa thu.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của các chỉ số xác suất ROC, AUC và BSS trong việc cảnh báo sớm mưa cực trị theo ngưỡng phân vị 90.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để triển khai các mô hình hiệu chỉnh thống kê và học máy trong giai đoạn 2024-2026.

Công trình là bước đệm quan trọng giúp ngành khí tượng hiện đại hóa công nghệ dự báo hạn nội mùa. Các nhà nghiên cứu và cơ quan chuyên môn hãy đẩy mạnh ứng dụng và phát triển giải pháp hiệu chỉnh sai số nhằm tối ưu hóa hiệu quả phòng chống thiên tai tại Việt Nam.