CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHỈ SỐ KHÍ HẬU CỰC ĐOAN 1.1 Nghiên cứu về chỉ số khí hậu cực đoan trên thế giới Sự thay đổi của các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan có tác động nghiêm trọng và là một trong những thách thức lớn mà xã hội phải đối mặt trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Do đó, Karl và cs (1996) lập luận rằng có thể định lượng các cực đoan khí hậu này thông qua các chỉ số, vì vậy ý tưởng biên soạn ECI được đưa ra vào năm 1995 và công bố lần đầu vào năm 1996 [24]. Từ đó, nhiều nhóm nghiên cứu đã sử dụng ECI cho các khu vực khác nhau trên thế giới. Nhằm nghiên cứu sự biến thiên về các hiện tượng khí hậu cực đoan vào mùa hè, Zhang và cs (2008) đã sử dụng chuỗi nhiệt độ không khí hàng ngày (1960– 2004) tại 66 địa điểm ở lưu vực sông Hoàng Hà, Trung Quốc.
Nghiên cứu này, xác định các hiện tượng nhiệt độ cực đoan qua các chỉ số cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng phân vị. Kết quả cho thấy các chỉ số cao hơn phân vị thứ 90th (95th) là có xu hướng tăng đáng kể ở các trạm ở phía Tây và Bắc của lưu vực sông Hoàng Hà, nhưng ở hầu hết các trạm ở hạ lưu sông Hoàng Hà không đạt độ tin cậy 95% [33]. Sự biến động nhiệt độ tối cao và tối thấp trong mùa hè và mùa đông của lưu vực sông Hoàng Hà [33] 3 Kiktev và cs (2003) sử dụng mô hình HadAM3 (Hadley Centre Atmospheric Model version 3) và kết hợp với các chỉ số khí hậu cực đoan được đề xuất bởi Frich và cs (2002) để đánh giá kết quả mô phỏng hiện thực khí hậu cực đoan (ECEs), 6 chỉ số đó là: ngày sương giá (FD), đêm nóng (TN90p), ngày khô liên tục (CDD), chỉ số cường độ mưa (SDII), lượng mưa 5 ngày lớn nhất (Rx5day), số ngày mưa lớn. Kết quả cho thấy số ngày băng giá đã giảm đáng kể trên phần lớn Bắc bán cầu, ngược lại so với số đêm nóng.
Các khu vực có lượng mưa cực đoan tăng và số ngày khô liên tiếp giảm rõ rệt, nhưng phạm vi tăng/giảm trên quy mô không gian nhỏ. Xu thế biến đổi của Rx5day có ý nghĩa thống kê không cao [25]. Collins và cs (2000) đã điều tra những thay đổi tần suất của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan ở Úc. Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu nhiệt độ hàng ngày tại 88 trạm quan trắc để xác định xu thế của các chỉ số này, phần lớn số liệu tại các trạm được quan trắc trong giai đoạn 1957-1996.
Các chỉ số được điều tra bao gồm nhiệt độ tối cao và tối thấp hàng ngày trên và dưới ngưỡng nhiệt độ cố định, các số lần trên và dưới các mức phân vị được chỉ định. Kết qủa chỉ ra rằng sự xuất hiện của các hiện tượng cực đoan về nhiệt độ cao thường tăng lên trong thời gian nghiên cứu, trong khi số lượng các sự kiện về nhiệt độ thấp có xu thế giảm. Mức biến đổi mạnh đối với các chỉ số dựa trên nhiệt độ cực tiểu (Tn), với nhiều chỉ số có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%. Một số xu thế cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các khu vực, ví dụ như xu hướng giảm sự kiện các cực đoan nóng ở các khu vực phía Đông Nam nước Úc, ngược với xu thế xu thế tăng trên toàn ở khu vực Úc (Hình 1.
Hội thảo về biến đổi khí hậu ở Trung Đông đã quy tụ các nhà khoa học cùng với dữ liệu khí tượng từ các quốc gia bao gồm Oman, Qatar, Cyprus, Georgia, Iran, Iraq, Israel, Armenia, Azerbaijan, Bahrain, Jordan, Kuwait, Syria Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ để đưa ra phân tích về các hiện tượng khí hậu cực đoan cho toàn khu vực. Các nhà khoa học đã tính toán xu thế cho các yếu tố nhiệt độ và lượng mưa cực đoan trong giai đoạn 1950 – 2003 tại 52 trạm ở 15 quốc gia Trung Đông. Kết quả cho thấy xu thế tăng/giảm của các chỉ số nhiệt độ cực đoan khá đồng nhất về mặt không gian trong khu vực Trung Đông. Các chỉ số khí hậu cực đoan về nhiệt độ có xu thế 4 tăng/giảm khá rõ rệt như xu thế giảm đáng kể về các chỉ số ngày lạnh (TX10p) và đêm lạnh (TN10p).
Trong khi, xu thế biến đổi về chỉ số cực đoan lượng mưa nói chung là không rõ ràng và nhất quán theo không gian (Hình 1. Dấu hiệu của xu thế hàng năm (a) ngày nóng, (b) đêm nóng, (c) ngày nóng và (d) đêm nóng. Ký hiệu đấu dương (âm) biểu thị các xu thế tăng (giảm) [18] Hình 1. Xu thế biến đổi TX10p và TN10p hàng năm trong giai đoạn 1950–2003 và 1970–2003.
Hình tam giác hướng lên thể hiện xu hướng tăng, hướng xuống thể hiện xu hướng giảm. Hình được tô màu đen thể hiện xu thế đạt độ tin cậy 95% [34] Để thống nhất các bộ chỉ số cực đoan, WMO đã thành lập nhóm chuyên gia của Ban khí hậu (CCI), Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới (WCRP) và Ban 5 kỷ thuật chung cho khí tượng biển và hải dương học (JCOMM) thảo luận xác định, theo dõi và chỉ số hóa (ETCCDI) khí hậu phục vụ nghiên cứu. Nhóm chuyên gia này gồm nhiều nhà khoa học đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Năm 2001, nhóm chuyên gia của CCI/WCRP/JCOMM đã đề xuất một bộ chỉ số cực đoan khí hậu trên quy mô toàn cầu [29].
Mặc dù vậy, hạn chế chính của bộ chỉ số này là còn thiếu chi tiết về ECI trên khu vực nhiệt đới. Năm 2003, sự kiện khí hậu cực đoan của vùng nhiệt đới đã được nghiên cứu sâu hơn, đây là các chỉ số được tổng hợp bởi các chuyên gia của các nhóm CCI/WCRP/JCOMM được phát triển dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, kết hợp với các nghiên cứu. Năm 2009, WMO xuất bản tài liệu "Hướng dẫn phân tích cực đoan trong biến đối khí hậu phục vụ thích ứng". Tài liệu hướng dẫn trong việc xác định, tính toán và phân tích các chỉ số ECI, có thể áp dụng cho cả vùng nhiệt đới và ngoại nhiệt đới.
Trong tài liệu này, WMO đã đưa ra 27 chỉ số ECI liên quan đến lượng mưa và nhiệt độ được tính từ số liệu quan trắc ngày. WMO cho rằng các nước thành viên cần xác định các ngưỡng cực đoan và lựa chọn tính toán ECI theo điều kiện khí hậu của từng quốc gia [30]. Năm 2009, IPCC đã đưa ra 27 chỉ số ECI (http://etccdi.org /list_27 _indices.shtml) và cách tính toán bao gồm cả các yếu tố và hiện tượng. Trong báo cáo thứ tư, IPCC (2007) đã tính toán một loạt các chỉ số ECI về nhiệt độ và lượng mưa nhằm đánh giá mức độ thay đổi và dự tính về yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan trên quy mô toàn cầu (Hình 1.
Báo cáo đặc biệt về biến đổi khí hậu lần thứ năm của IPCC (AR5) thể hiện yếu tố khí hậu cực đoan với kết quả khá giống với báo cáo AR4. Báo cáo thứ năm đã trình bày các dự tính về sự kiện khí hậu cực đoan trong tương lai theo các kịch bản RCP. Kết quả cho thấy các chỉ số cực đoan liên quan đến ngưỡng nhiệt độ cao có xu thế tăng, trong khi ECI liên quan đến ngưỡng nhiệt độ thấp (số ngày lạnh, số đêm lạnh) có xu hướng giảm. Theo kịch bản trung bình, trên quy mô toàn cầu, số ngày ấm và rất ấm có xu thế tăng; Số đêm lạnh có xu thế giảm (Hình 1.
Minh họa kết quả tính toán các chỉ số cực đoạn khí hậu liên quan đến nhiệt độ (trái) và lượng mưa (phải) trên quy mô toàn cầu thời kỳ 1951-2003 [21] Hình 1. Minh họa kết quả dự tính biến đổi của các chỉ số cực đoan khí hậu theo các kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC [21] Báo cáo đặc biệt về biến đổi khí hậu lần thứ năm của IPCC (AR6) cho thấy gần như chắc chắn rằng đã có sự gia tăng số ngày đêm ấm, giảm số ngày và đêm lạnh trên phạm vi toàn cầu kể từ năm 1950. Gần như chắc chắn rằng đã có sự gia tăng về cường độ và thời gian nắng nóng và số ngày nắng nóng trên toàn cầu. Tần suất và cường độ mưa lớn có khả năng tăng trên phần lớn phạm vi trên đất liền có nhiều trạm quan trắc.
Kể từ năm 1950, Rx1day, hoặc Rx5day có khả năng tăng lên, với sự gia tăng ở nhiều khu vực hơn so với giảm. Lượng mưa lớn có khả năng tăng 7 lên trên quy mô lục địa trên ba châu lục (Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á), nơi có nhiều dữ liệu quan trắc hơn (Hình 1. Liên quan đến nhiệt độ Liên quan đến lượng mưa Hình 1. Bên trái: Minh họa xu thế tuyến tính trong giai đoạn 1960–2018 của (a) (TXx), (b) (TNn) và (c) (TX90p).
Bên phải: Xu thế quan trắc về Rx1day trong giai đoạn 1950–2018 tại 8345 trạm; (a) Tỷ lệ trạm với xu thế Rx1day có ý nghĩa thống kê; chấm xanh thể hiện xu thế tăng và nâu là xu thế giảm. Bản đồ các trạm có xu thế tăng (b) và giảm (c). Màu sáng biểu thị các trạm có sự biến đổi thấp hơn và màu tối là cao hơn [22] Kết quả dự tính trong thế kỷ 21 cho thấy, hầu như chắc chắn rằng cường độ và tần suất của các cực đoan nóng sẽ tiếp tục tăng, đồng thời giảm cường độ và tần suất cực đoan lạnh trên toàn cầu. Số ngày, đêm nóng và độ dài, tần suất và/hoặc cường độ của các đợt nắng nóng so với năm 1995–2014 dự tính tăng lên trên hầu hết diện tích của đất liền.
Dự tính nhiệt độ của ngày nắng nóng tăng cao nhất ở một số vùng ở vĩ độ trung bình và bán khô hạn, vào khoảng 1,5-2 lần tốc độ nóng lên toàn cầu. Hiện tượng mưa lớn nói chung được dự đoán sẽ trở nên thường xuyên hơn. Tại mức nóng lên toàn cầu 4°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, các đợt mưa lớn sẽ trở nên nhiều hơn và dữ dội hơn so với trong quá khứ gần đây trên quy mô toàn cầu. Trên phạm vi toàn cầu, việc tăng lượng mưa lớn sẽ kéo theo tốc độ tăng lượng ẩm tối đa mà khí quyển có thể giữ được khi nó ấm lên; lượng ẩm tối đa tăng khoảng 7% trên 1°C của sự nóng lên toàn cầu.
Sự tăng cường độ của hiện tượng mưa cực đoan ở quy mô khu vực sẽ phụ thuộc vào mức độ nóng lên của khu vực cũng như những thay đổi trong khí quyển hoàn lưu và động lực của bão, dẫn đến sự khác biệt giữa các vùng trong tốc độ thay đổi lượng mưa lớn [22].