Mở đầu : Các nội dung nhằm sơ lƣợc sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu. Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về Basel. Chƣơng 2: Đánh giá khả năng ứng dụng các chuẩn mực của Hiệp ƣớc Basel tại các NHTM Việt Nam. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm ứng dụng các chuẩn mực của Hiệp ƣớc Basel tại các NHTM Việt Nam.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BASEL 1.1 Giới thiệu lịch sử ra đời của Ủy ban Basel và nội dung cơ bản của hiệp ƣớc Basel I, Basel II và Basel III.1 Giới thiệu lịch sử ra đời của Ủy ban Basel Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh mẽ và có những dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của các NHTM ở các nƣớc khác nhau, nên dẫn đến cạnh tranh không công bằng trong cùng một thị trƣờng, đây là điều cấm kỵ trong cơ chế hội nhập. Sau hàng loạt vụ sụp đổ của của các ngân hàng, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức, một nhóm các Ngân hàng Trung ƣơng và cơ quan giám sát của nhóm G10 nƣớc phát triển (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ) đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hƣớng này. Sau khi nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định thành lập Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision), đƣa ra các nguyên tắc chung để quản lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế.
Năm 1988, Ủy Ban Basel đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ƣớc về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng đƣợc hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục đích ra đời của Basel I nhằm: - Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế. - Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế đảm bảo an toàn cho ngƣời gửi tiền.
6 Do tính thiết thực của nó đối với cộng đồng các tổ chức tài chính, ngân hàng nên Basel không chỉ phổ biến ở các quốc gia thành viên, đến nay có hơn 100 nƣớc khác trên thế giới cùng hƣởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trƣờng, Basel đã đƣợc cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cho thấy các quy định của Basel II vẫn còn nhiều hạn chế, đã có ý kiến cho rằng Basel II là nguyên nhân gián tiếp gây ra cuộc khủng hoảng này. Trƣớc diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng và những yêu cầu bức thiết phải khắc phục những nhƣợc điểm của Basel II thì ngày 12/09/2010 Ủy ban Basel đã chính thức công bố bộ tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu áp dụng cho các NHTM, quy định này đƣợc gọi là hiệp ƣớc an toàn vốn Basel III.
Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống Ngân hàng của một quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới. Ủy ban Basel thƣờng xuyên tổ chức các cuộc thảo luận về vấn đề xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát ngân hàng, nâng cao chất lƣợng công tác giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới. Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Ủy ban này không có tính pháp lý trong việc yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hƣớng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ.
Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào kỹ thuật giám sát của các nƣớc thành viên.2 Hiệp ƣớc Basel I 1.1 Nội dung cơ bản hiệp ƣớc Basel I 7 Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ƣớc về vốn của Basel (Basel I). Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định đƣợc tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi ro, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hƣởng đến lợi ích của ngƣời gửi tiền. Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng quốc tế thuộc nhóm 10 nƣớc phát triển. Sau đó, Basel đã trở thành chuẩn mực toàn cầu và đƣợc áp dụng ở trên 120 quốc gia.1: Cơ cấu của hiệp ƣớc Basel I Yêu cầu vốn tối thiểu Định nghĩa vốn Tài sản có rủi ro (tử số) (Mẫu số) Rủi ro tín dụng (1988) Rủi ro thị trƣờng (1996) Nguồn: Basle Capital Accord, BIS.[32] Hệ số CAR đƣợc tính nhƣ sau: Tổng vốn Tỷ lệ vốn tối thiểu CAR = Tài sản có rủi ro (RWA) Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% 8 và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.
Tổng vốn của ngân hàng đƣợc chia làm 2 loại: - Vốn cấp 1 (Core Capital, Vốn tự có cơ bản): là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phòng đƣợc công bố gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần phổ thông), vốn dự trữ đã công bố (lợi nhuân không chia). - Vốn cấp 2 (Supplementary Capital, Vốn tự có bổ sung): vốn này đƣợc xem là nguồn vốn bổ sung và có chất lƣợng thấp hơn, bao gồm: dự trữ không đƣợc công bố; vốn tăng do đánh giá lại tài sản; các khoản dự phòng tổn thất chung; vốn bổ sung từ các công cụ nợ hỗn hợp (trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ƣu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp), đầu tƣ tài chính vào công ty con và các tổ chức tài chính khác. Tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 là vốn tự có, các giới hạn của vốn tự có: Tổng vốn cấp 2 không đƣợc quá 100% vốn cấp 1; Nợ thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1; Dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; Dự trữ tài sản đánh giá lại đƣợc chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill). Tài sản có rủi ro (RWA) trong Basel I đƣợc tính nhƣ sau: RWABasel I = Tài sản * Hệ số rủi ro Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro đƣợc chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50%, và 100% tƣơng ứng với các khoản cho vay chính phủ, ngân hàng hay doanh nghiệp.2 Những hạn chế của Basel I Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn nhƣng nó vẫn có khá nhiều điểm hạn chế: - Thứ nhất: phân loại rủi ro chƣa chi tiết cho các khoản cho vay.
Hệ số rủi ro chƣa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ: khả năng tài chính của khách hàng) hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ: theo thời hạn). Điều này chỉ ra rằng có thể các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhƣng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau, ở mức độ khác nhau. Một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng AA đƣợc coi nhƣ một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng B. - Thứ hai: Basel I chƣa tính đến lợi ích của đa dạng hoá hoạt động.
Các lý thuyết về đầu tƣ chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hoá danh mục đầu tƣ. Tuy nhiên, theo Basel I, quy định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro hơn). Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lƣợng vốn giống nhƣ một danh mục đầu tƣ đƣợc đa dạng hóa, với cùng một giá trị (ví dụ: không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1). - Thứ ba: Basel I chƣa tính đến các rủi ro khác.
Trong quy định vốn tối thiểu của mình, Basel I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng, chƣa đề cập đến những rủi ro khác nhƣ rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại hối; đề cập chƣa đầy đủ về rủi ro thị trƣờng. - Thứ tư: một số các quy tắc do Basel I đƣa ra không thể vận dụng trong trƣờng hợp ngân hàng sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng - chi nhánh. Với những hạn chế vốn có của mình cộng với sự thay đổi của nền kinh tế, Basel I bộc lộ việc không đáp ứng đƣợc tình hình thực tế. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Basel II vào năm 2004 và có hiệu lực vào tháng 12/2006 10 1.3 Hiệp ƣớc Basel II 1.1 Nội dung của Hiệp ƣớc Basel II Basel II đƣa ra cách tiếp cận mới dựa trên 3 trụ cột chính: - Trụ cột I: Liên quan đến các yêu cầu về vốn tối thiểu.
Theo đó, tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - CAR) vẫn đƣợc duy trì ở mức 8% nhƣ Basel I. Tuy nhiên, khi đánh giá rủi ro thị trƣờng, Basel II cho phép các ngân hàng tính thêm phần vốn cấp 3 – loại vốn đƣợc hình thành từ các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn với mục đích dự trữ.