Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là không gian phân bố các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh. Tại Việt Nam, với đặc thù địa hình ba phần tư là đồi núi và chỉ một phần tư là đồng bằng, quỹ đất đai chịu sức ép rất lớn từ tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng đòi hỏi công tác quản lý phải dựa trên quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm khai thác hợp lý, tiết kiệm và hạn chế lãng phí tài nguyên. Tuy nhiên, tại các đơn vị hành chính cấp cơ sở, việc triển khai quy hoạch sử dụng đất trên thực tế thường gặp nhiều bất cập, quy trình thực hiện chưa đồng bộ dẫn tới hiệu quả đạt được chưa cao. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lê Xuân Trường đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý Đất đai nhằm đánh giá toàn diện công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Văn bản khóa luận xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát:
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Hồng Hải giai đoạn 2011 - 2015.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất của phường giai đoạn 2011 - 2015 theo từng năm và cả giai đoạn.
- Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Hồng Hải trong các giai đoạn sau.
Nghiên cứu xác lập đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 của phường Hồng Hải.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; địa điểm thu thập số liệu tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Ủy ban nhân dân (UBND) phường Hồng Hải.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 30/09/2015 đến ngày 30/12/2015; chuỗi số liệu đánh giá tập trung vào giai đoạn kế hoạch 2011 - 2015, có so sánh đối chiếu với hiện trạng kiểm kê năm 2010 và năm 2015.
Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về đất đai và quy hoạch sử dụng đất:
- Khung lý thuyết và khái niệm: Đề tài viện dẫn định nghĩa thổ nhưỡng học của Docutraep (1987) qua giáo trình của Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài (2006) coi đất là vật thể tự nhiên hình thành qua thời gian dài dưới tác động của 5 yếu tố (đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình, thời gian); cùng định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) về đất đai như một tổng thể không gian vật chất gắn liền giá trị kinh tế. Đặc tính tư liệu sản xuất đặc biệt của đất đai được phân tích qua 6 thuộc tính (Lương Văn Hinh và cộng sự, 2003): nguồn gốc tự nhiên, tính hạn chế về số lượng, tính không đồng nhất, tính không thể thay thế, tính cố định về vị trí và tính vĩnh cửu. Về quy hoạch sử dụng đất, công trình tiếp cận theo định nghĩa của Nguyễn Ngọc Nông và Nguyễn Đình Thi (2003), xác định đây là hệ thống biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế nhằm phân bổ và tổ chức sử dụng quỹ đất tối ưu.
- Cơ sở pháp lý: Tác giả căn cứ vào Điều 17 Hiến pháp năm 1992; Luật Đất đai năm 2003 (Khoản 2 Điều 6 về 13 nội dung quản lý nhà nước; các Điều 18, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 29); Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT; Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT; Nghị định số 42/2012/NĐ-CP; Nghị quyết số 17/2011/QH13; Nghị quyết số 22/NQ-CP của Chính phủ; Chỉ thị số 364/CP-HĐBT; Quyết định số 199/2003/QĐ-TTg; Quyết định số 619/QĐ-UBND và Quyết định số 2090/2010/QĐ-UBND của UBND thành phố Hạ Long; Quyết định số 3434/QĐ-UBND, Quyết định số 4903/QĐ-UBND và Quyết định số 3310/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Ninh.
Về phương pháp thực hiện, đề tài kết hợp 4 phương pháp chuyên môn:
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu: Thu thập số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài liệu phương án quy hoạch kỳ 2002 - 2010 và kết quả thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 tại địa phương.
- Phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp số liệu: Xử lý và lập hệ thống bảng biểu để đơn giản hóa số liệu địa chính phức tạp.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh: Đối chiếu giữa số liệu kế hoạch được phê duyệt và hiện trạng biến động thực tế qua từng năm.
- Phương pháp xử lý số liệu: Chọn lọc, kiểm tra chéo và loại bỏ các dữ liệu sai lệch để bảo đảm độ chính xác khoa học.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu lấy từ các báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai, bản đồ địa chính, văn bản hành chính của UBND phường Hồng Hải, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Phần mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý đất đai trong bối cảnh diện tích đất đồng bằng cả nước hạn chế (chiếm 1/4 diện tích), nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá tính khả thi trong quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở. Nội dung phần này thiết lập mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, yêu cầu và ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan tập hợp các lý luận cơ bản về đất đai, vai trò của đất đai đối với 3 nhóm chức năng (phi nông nghiệp, nông - lâm nghiệp, môi trường) và 13 nội dung quản lý nhà nước theo Luật Đất đai 2003. Khóa luận phân loại quy hoạch theo lãnh thổ (cả nước, vùng, tỉnh, huyện, xã) và theo ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
Tác giả lược khảo kinh nghiệm quốc tế tại Đức (tiếp cận phân cấp từ Liên bang, bang đến đồ án tác nghiệp vùng), Philippines (3 cấp: quốc gia, vùng, quận/huyện) và Đài Loan (hệ thống 5 cấp quy hoạch từ tổng hợp đến đô thị và phi đô thị). Về tiến trình lịch sử tại Việt Nam, tác giả chia làm 4 giai đoạn: trước năm 1980 (lồng ghép trong quy hoạch nông - lâm nghiệp), giai đoạn 1981 - 1986 (triển khai quy hoạch 500 huyện gắn với phân bố lực lượng sản xuất), giai đoạn 1987 đến trước Luật Đất đai 1993 (đổi mới nông thôn, giao đất cấp xã), và giai đoạn sau Luật Đất đai 1993 đến nay (công tác quản lý đi vào nền nếp, lập kế hoạch cấp quốc gia 1996 - 2000).
Ở quy mô cả nước, văn bản trích dẫn kết quả thực hiện quy hoạch 10 năm: 63/63 tỉnh thành lập quy hoạch, cấp huyện đạt 88,38%, cấp xã đạt 78,35%. Về chỉ tiêu diện tích, đất nông nghiệp vượt 0,02%, đất phi nông nghiệp đạt 92,14%, khai thác đất chưa sử dụng đạt 95,15%. Thu ngân sách từ đất tăng mạnh từ hơn 17 nghìn tỷ đồng năm 2004 lên trên 54 nghìn tỷ đồng năm 2010. Tác giả cũng chỉ ra các bất cập như dự báo quỹ đất chưa sát thị trường, áp dụng cứng nhắc hơn 40 chỉ tiêu cho cả 4 cấp hành chính, quy hoạch theo ranh giới hành chính thiếu tính liên vùng và việc phê duyệt của cấp tỉnh còn chậm.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung này xác định ranh giới đối tượng, thời gian nghiên cứu (30/09/2015 đến 30/12/2015) và quy trình thực hiện gồm 3 mảng công việc:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng và biến động đất đai phường Hồng Hải.
- Đánh giá chi tiết kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 theo từng chỉ tiêu, từng năm, việc thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất.
- Nhận diện các tồn tại, phân tích nguyên nhân và đề xuất nhóm giải pháp khắc phục.
Chương cũng quy định chi tiết kỹ thuật vận hành của 4 phương pháp nghiên cứu: thu thập dữ liệu, phân tích thống kê, so sánh tổng hợp và xử lý dữ liệu thực địa.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thực hiện
Tác giả trình bày kết quả khảo sát thực tế tại phường Hồng Hải:
- Điều kiện tự nhiên: Phường nằm gần trung tâm thành phố Hạ Long, tiếp giáp phường Hà Lầm (Bắc), Hà Trung (Đông Bắc), vịnh Hạ Long (Nam), Hồng Hà (Đông), Bạch Đằng (Tây) và Cao Thắng (Tây Bắc). Khí hậu chia làm 2 mùa: mùa hè nóng ẩm (tháng 5 đến tháng 10) chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, đỉnh điểm tháng 7 - 8 đạt 350 mm; mùa đông khô lạnh (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20%, tháng 12 và tháng 1 thấp nhất chỉ đạt 4 - 40 mm. Tổng lượng mưa trung bình năm là 2.016 mm. Nhiệt độ trung bình năm đạt 22,9°C (dao động từ 16,8°C đến 28,7°C, cao kỷ lục 38,8°C, thấp nhất 13,7°C, cực tiểu 5°C). Độ ẩm không khí trung bình 82%. Tốc độ gió bình quân 2,8 m/s (hướng Tây Nam mạnh nhất 4,5 m/s). Hàng năm có 230 - 250 ngày nắng với 1.699,30 giờ nắng. Chế độ thủy văn chịu nhật triều biên độ 3 - 4 m; độ mặn nước biển đạt 21,6% vào tháng 7 và 32,4% vào tháng 2 - 3. Phường có hệ thống khe tụ thủy thoát nước sườn đồi và các kênh hở rộng 5 - 7 m thoát nước mưa cùng nước thải sinh hoạt trực tiếp ra vịnh Hạ Long.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Toàn phường có 65 công ty TNHH/cổ phần và 332 hộ kinh doanh cá thể, giải quyết việc làm cho hơn 1.000 lao động tại chỗ với thu nhập ổn định. Lĩnh vực y tế có 1 trạm y tế đạt chuẩn. Các khu phố 7, 11a, 12, 14 đạt danh hiệu khu phố văn hóa.
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2015: Tổng diện tích tự nhiên của phường đạt 315,74 ha. Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 66,80 ha (21,15%), gồm 0,68 ha đất trồng cây hàng năm khác (chiếm 0,21%, phân bố rải rác chân đồi) và 66,12 ha đất rừng phòng hộ (chiếm 20,94%, nằm phía Đông Quốc lộ 18A).
- Đất phi nông nghiệp: 243,34 ha (77,07%), gồm đất trụ sở cơ quan 2,94 ha; đất quốc phòng 9,10 ha (Ban Chỉ huy quân sự thành phố Hạ Long); đất an ninh 1,40 ha (Công an phường); đất cơ sở sản xuất kinh doanh 4,50 ha; đất nghĩa trang nghĩa địa 6,96 ha; đất có mặt nước chuyên dùng 3,71 ha; đất sông suối kênh rạch 2,99 ha; đất phát triển hạ tầng 122,54 ha (văn hóa 18,78 ha, y tế 0,04 ha, giáo dục 9,45 ha, thể dục thể thao 23,77 ha, giao thông 70,50 ha với tuyến Quốc lộ 18A dài 3,2 km); đất ở đô thị 89,20 ha (28,25%).
- Đất chưa sử dụng: 5,60 ha (1,77%).
Bảng số liệu tổng hợp hiện trạng sử dụng đất phường Hồng Hải năm 2015:
| STT |
Chỉ tiêu sử dụng đất |
Mã loại đất |
Diện tích hiện trạng (ha) |
Cơ cấu (%) |
| 1 |
Đất nông nghiệp |
NNP |
66,80 |
21,15 |
| 1.1 |
Đất trồng cây hàng năm còn lại |
HNK |
0,68 |
0,21 |
| 1.2 |
Đất rừng phòng hộ |
RPH |
66,12 |
20,94 |
| 2 |
Đất phi nông nghiệp |
PNN |
243,34 |
77,07 |
| 2.1 |
Đất xây dựng trụ sở cơ quan, sự nghiệp |
TSC |
2,94 |
0,89 |
| 2.2 |
Đất quốc phòng |
CQP |
9,10 |
2,88 |
| 2.3 |
Đất an ninh |
CAN |
1,40 |
0,44 |
| 2.4 |
Đất cơ sở sản xuất kinh doanh |
SKC |
4,50 |
1,42 |
| 2.5 |
Đất nghĩa trang, nghĩa địa |
NTD |
6,96 |
2,20 |
| 2.6 |
Đất có mặt nước chuyên dùng |
MNC |
3,71 |
1,17 |
| 2.7 |
Đất sông, suối |
SON |
2,99 |
0,94 |
| 2.8 |
Đất phát triển hạ tầng |
DHT |
122,54 |
38,81 |
| - |
Đất cơ sở văn hóa |
DVH |
18,78 |
5,94 |
| - |
Đất cơ sở y tế |
DYT |
0,04 |
0,012 |
| - |
Đất cơ sở giáo dục - đào tạo |
DGD |
9,45 |
2,99 |
| - |
Đất cơ sở thể dục - thể thao |
DTT |
23,77 |
7,52 |
| - |
Đất giao thông |
DGT |
70,50 |
22,32 |
| 2.9 |
Đất ở đô thị |
ODT |
89,20 |
28,25 |
| 3 |
Đất chưa sử dụng |
CSD |
5,60 |
1,77 |
| - |
Tổng diện tích đất tự nhiên |
- |
315,74 |
100,00 |
- Phân bổ chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ 2011 - 2015: Thành phố Hạ Long phân bổ chỉ tiêu diện tích tự nhiên cho phường tăng từ 301,74 ha lên 315,74 ha (tăng 14,0 ha từ nguồn đất mặt nước ven biển để phục vụ dự án Bảo tàng tỉnh và Khu Văn hóa Thể thao tỉnh).
- Đất nông nghiệp được phân bổ giảm 10,74 ha, từ 72,10 ha (năm 2010 - 2012) xuống 61,86 ha (năm 2013) và còn 61,36 ha (năm 2014 - 2015). Đất rừng phòng hộ giảm 9,54 ha vào năm 2013 để chuyển sang đất an ninh 0,82 ha, đất sản xuất kinh doanh 0,15 ha, đất hạ tầng 6,47 ha và đất ở đô thị 2,10 ha.
- Đất phi nông nghiệp phân bổ tăng 30,79 ha, từ 221,25 ha (năm 2010 - 2012) lên 251,54 ha (năm 2013) và đạt 252,04 ha (năm 2014 - 2015). Cụ thể: đất trụ sở cơ quan tăng 0,30 ha vào năm 2014 (lấy từ đất cây hàng năm để lập trụ sở UBND phường tại khu 6, nâng tổng mức lên 2,99 ha); đất quốc phòng năm 2011 giảm 0,80 ha (chuyển sang đất ở quân nhân) còn 3,39 ha, sau đó năm 2013 tăng 6,47 ha (lấy 5,77 ha đất chưa sử dụng và 0,70 ha đất cây hàng năm) lên 9,86 ha để lập thao trường huấn luyện và khu phòng thủ; đất an ninh tăng lên 1,84 ha năm 2013 (lấy 1,80 ha xây trụ sở Công an thành phố) và đạt 2,04 ha năm 2014 (bổ sung 0,20 ha xây trụ sở Công an phường tại khu 6); đất sản xuất kinh doanh tăng 0,15 ha lên 4,65 ha năm 2013 (tại khu đô thị đồi Ngân Hàng); đất hạ tầng tăng 22,79 ha lên 130,40 ha năm 2013, nổi bật là đất văn hóa tăng vọt từ 1,31 ha lên 24,57 ha (quy hoạch Bảo tàng tỉnh 4,0 ha, Khu Văn hóa Thể thao tỉnh 20,0 ha, công viên vui chơi khu 8 là 1,68 ha, khu đô thị đồi Ngân Hàng 3,08 ha); đất cơ sở thể dục thể thao giảm 4,50 ha còn 21,82 ha năm 2013; đất ở đô thị tăng lên 89,36 ha năm 2011 (thêm 0,80 ha khu gia đình quân nhân) và đạt kế hoạch 90,03 ha vào năm 2013.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Nội dung phần này tổng kết các bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý địa chính, kiến nghị các cấp thẩm quyền hoàn thiện cơ chế thẩm định, phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất và nâng cao năng lực giám sát quy hoạch tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể về quá trình chuyển dịch đất đai tại phường Hồng Hải giai đoạn 2011 - 2015:
- Làm rõ sự biến động địa giới và diện tích tự nhiên: Phường Hồng Hải mở rộng thêm 14,0 ha diện tích đất tự nhiên thông qua việc đưa đất mặt nước ven biển vào quy hoạch xây dựng các công trình công cộng của tỉnh (Bảo tàng tỉnh và Khu Văn hóa Thể thao tỉnh), nâng quy mô đất tự nhiên lên 315,74 ha.
- Đánh giá thực trạng cơ cấu đất: Năm 2015, tỷ trọng đất phi nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 77,07% (243,34 ha), đất nông nghiệp còn lại 21,15% (66,80 ha - trong đó rừng phòng hộ chiếm 66,12 ha, đất nông nghiệp canh tác thực tế chỉ còn 0,68 ha phân bố rải rác), và quỹ đất chưa sử dụng còn 5,60 ha (1,77%).
- Đối chiếu chỉ tiêu phân bổ và hiện trạng thực hiện: Phân tích chi tiết tiến độ chuyển đổi quỹ đất qua từng mốc năm, chỉ ra sự chuyển dịch lớn của nhóm đất rừng phòng hộ (giảm 9,54 ha) và đất chưa sử dụng để phục vụ phát triển hạ tầng văn hóa, quốc phòng và an ninh.
Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp khắc phục các tồn tại:
- Rà soát, lập quy hoạch chi tiết và đóng cửa, sắp xếp lại diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa (hiện có 6,96 ha) vốn đang bị khoanh bao, thiếu sự quản lý tập trung.
- Đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt đô thị trước khi xả ra các kênh hở rộng 5 - 7 m đổ ra vịnh Hạ Long nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển.
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa UBND cấp phường với các cơ quan chuyên môn của thành phố Hạ Long để hạn chế tình trạng quy hoạch chuyên ngành chồng chéo, vượt khung kế hoạch sử dụng đất.
Đóng góp của tác giả nằm ở việc hệ thống hóa toàn diện các số liệu địa chính giai đoạn 2011 - 2015 của một phường trung tâm đô thị, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ khiến quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở bị động và đề xuất các bài học thực tiễn phục vụ lập quy hoạch giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong ranh giới hành chính một phường đô thị (Hồng Hải); thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (từ 30/09/2015 đến 30/12/2015); nguồn số liệu lưu trữ ở cấp cơ sở có phần gián đoạn, một số chỉ tiêu xã hội như dân số và lao động chưa phản ánh liên tục đủ các năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần nghiên cứu tích hợp quy hoạch sử dụng đất cấp phường với quy hoạch xây dựng đô thị chi tiết theo Luật Đất đai năm 2013; đánh giá định lượng sâu hơn về tác động môi trường của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ven biển vịnh Hạ Long và bài toán tái định cư khi thu hồi đất đồi rừng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý Đất đai, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Địa chính môi trường: Tham khảo về phương pháp luận xử lý số liệu kiểm kê, kỹ thuật bóc tách bảng biểu phân bổ chỉ tiêu quy hoạch và cấu trúc trình bày một khóa luận tốt nghiệp ngành đất đai.
- Cán bộ địa chính cấp xã, phường và cơ quan tài nguyên môi trường cấp huyện: Tham khảo khung đánh giá thực tiễn, kinh nghiệm nhận diện bất cập trong quản lý đất nghĩa trang, đất hạ tầng văn hóa - quốc phòng và kỹ thuật lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm.
Câu hỏi thường gặp
1. Diện tích đất tự nhiên của phường Hồng Hải biến động như thế nào trong kỳ kế hoạch 2011 - 2015?
Theo văn bản, diện tích đất tự nhiên của phường năm 2010 là 301,74 ha. Trong kỳ kế hoạch 2011 - 2015, diện tích được phân bổ tăng thêm 14,0 ha do đưa diện tích mặt nước ven biển vào quy hoạch dự án Bảo tàng tỉnh và Khu Văn hóa Thể thao tỉnh, nâng tổng diện tích lên 315,74 ha.
2. Đất nông nghiệp tại phường Hồng Hải đến năm 2015 có đặc điểm cơ cấu ra sao?
Nhóm đất nông nghiệp có tổng diện tích 66,80 ha (chiếm 21,15% diện tích tự nhiên). Cơ cấu chủ yếu là đất rừng phòng hộ với 66,12 ha (chiếm 20,94%), nằm ở phía Đông Quốc lộ 18A; diện tích đất trồng cây hàng năm còn lại chỉ có 0,68 ha (chiếm 0,21%), phân bố rải rác dưới chân đồi và canh tác không ổn định. Quỹ đất cho nông nghiệp thuần túy không còn.
3. Kế hoạch sử dụng đất 2011 - 2015 bố trí diện tích cho các công trình văn hóa trọng điểm như thế nào?
Chỉ tiêu đất cơ sở văn hóa được phê duyệt tăng từ 1,31 ha lên 24,57 ha (tăng 23,26 ha vào năm 2013). Quỹ đất tăng này nhằm bố trí cho các công trình: Bảo tàng tỉnh (4,0 ha), Khu Văn hóa Thể thao tỉnh (20,0 ha), Quảng trường công viên khu vui chơi khu 8 (1,68 ha) và đất văn hóa tại dự án khu đô thị đồi Ngân Hàng (3,08 ha).
4. Đất an ninh và đất quốc phòng trên địa bàn phường được quy hoạch tăng thêm cho những mục đích gì?
Đất an ninh tăng từ 0,04 ha lên 2,04 ha để mở rộng trụ sở Công an thành phố (1,80 ha) và lập trụ sở Công an phường mới tại khu 6 (0,20 ha). Đất quốc phòng sau khi giảm 0,80 ha năm 2011 cho đất ở gia đình quân nhân đã được phân bổ tăng thêm 6,47 ha vào năm 2013 (đạt 9,86 ha) để làm thao trường huấn luyện tổng hợp của Ban Chỉ huy quân sự thành phố và khu vực phòng thủ phía Bắc.
5. Văn bản nêu ra những tồn tại trực tiếp nào trong hiện trạng hạ tầng và môi trường đất đai tại phường Hồng Hải?
Văn bản chỉ rõ hai tồn tại nổi bật: diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa (6,96 ha) chưa được quy hoạch và quản lý chặt chẽ, còn tình trạng khoanh bao tự phát; hệ thống thoát nước ven biển sử dụng các kênh hở rộng 5 - 7 m xả thẳng nước mưa và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý ra vịnh Hạ Long.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Xuân Trường đã hoàn thành mục tiêu tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 tại phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu chi tiết về hiện trạng phân bổ 315,74 ha đất tự nhiên, làm rõ xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang nhóm đất phi nông nghiệp phục vụ hạ tầng văn hóa, đô thị và an ninh quốc phòng. Đồng thời, công trình chỉ ra các hạn chế trong quản lý đất nghĩa trang và thoát nước đô thị, cung cấp luận cứ thực tiễn hữu ích cho công tác quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở tại các đô thị ven biển.