CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu trên thế giới Khác với giai đoạn những năm 2009 – 2014, thời gian gần đây trên thế giới đã có khá nhiều những kinh nghiệm và bài học quý giá của các chính quyền địa phương trong việc xây dựng KHHĐ (đôi khi còn gọi là “chiến lược thích ứng địa phương”). Dựa trên tổng quan nghiên cứu các KHHĐ thích ứng với BĐKH của các nước như Mỹ, Nam Phi, Anh, và Philippine, tác giá xác định được sáu nhóm kinh nghiệm có thể áp dụng để đánh giá và so sánh công tác xây dựng KHHĐ ở Việt Nam cùng các nước trên thế giới.
Theo một nghiên cứu của Basett và đồng nghiệp năm 2010 đã chỉ ra rằng phần lớn các các KHHĐ cấp địa phương thực hiện trước năm 2010 tại Mỹ chỉ tập trung vào mảng giảm thiểu. Vấn đề thích ứng với BĐKH cũng được đề cập trong nội dung nhưng rất hạn chế [35]. Các kế hoạch này rất đa dạng. Có rất ít mô hình hay hướng dẫn về xây dựng KHHĐ, rất ít chuẩn hóa trong phương pháp, và các khuyến nghị đưa ra cũng không có nhiều tính mới.
Mặc dù trong phần lớn các trường hợp, việc xây dựng KHHĐ đã thu hút được sự tham gia của cộng đồng và góp phần nâng cao nhận thức, quá trình này có xu hướng sa vào các thảo luận mang tính khoa học và kỹ thuật về tác động của BĐKH. Đây được xem như một điểm yếu do sự tập trung vào các vấn đề kỹ thuật sẽ gây ra sự kém hiệu quả giữa giải pháp đề xuất và tính khả thi của các giải pháp hoặc khó lồng ghép với các quy trình, kế hoạch khác của địa phương. Một nghiên cứu tương tự ở Anh cũng chỉ ra rằng, bất kể quy mô các thành phố dù lớn hay nhỏ nhận ra tình trạng dễ bị tổn thương của họ trước BĐKH và sự cấp thiết cần thực hiện các biện pháp thích ứng, các KHHĐ mà họ đưa ra lại nhấn mạnh vào giảm thiểu hơn là thích ứng [45]. Một khảo sát gần đây đối với các thành phố là thành viên của ICLEI (Chính quyền địa phương vì sự phát triển bền vững) chỉ ra rằng mặc dù nhiều thành phố quan tâm đến tính dễ bị tổn thương với BĐKH, có rất ít thành phố đưa ra được báo cáo đánh giá tính dễ bị tổn thương, cùng các biện pháp ứng phó [37].
Theo báo cáo của các thành phố, có rất nhiều thách thức trở ngại bao gồm khó khăn trong tìm kiếm nguồn tài chính, và khối lượng thời gian phải đầu tư cho việc lập kế hoạch và triển khai các giải pháp thích ứng, cũng như khó khăn trong tạo dựng sự ủng hộ về mặt chính trị và cam kết 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của chính quyền đối với vấn đề này trước các mục tiêu ưu tiên khác. Ở Việt Nam, việc xây dựng KHHĐ ứng phó là yêu cầu bắt buộc của chính phủ và các địa phương được tài trợ để xây dựng KHHĐ. Đây là trường hợp cá biệt so với các nước trên thế giới. Một đánh giá khác tập trung riêng vào các hoạt động thích ứng, trong đó có kinh nghiệm của Úc và Anh cũng như Mỹ trong giai đoạn 2000-2010, cũng đưa ra kết luận tương tự: có rất ít trong số 57 KHHĐ ứng phó với BĐKH của địa phương có khả năng đưa ra được các biện pháp thích ứng, mặc dù đây là các quốc gia có nền công nghiệp phát triển và trình độ nghiên cứu về BĐKH hàng đầu [54].
Các KHHĐ thực tế hầu hết bao gồm những dự đoán về BĐKH, tác động của BĐKH, và kế hoạch tuyên truyền, phổ biến thông tin này tới các bên liên quan. Mặc dù rất nhiều kế hoạch đã đưa ra khuyến nghị cho nội dung tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức, nhưng có rất ít đánh giá ban đầu về khả năng thích ứng hoặc tính dễ bị tổn thương của các khu vực. Một số hạn chế khác của các KHHĐ ban đầu này bao gồm sự thiếu chú ý đến yếu tố không chắc chắn trong các dự đoán khí hậu và các yếu tố không liên quan đến khí hậu ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương, thiếu rõ ràng về các giả định và hạn chế trong phân tích, và hạn chế của các thảo luận về tính khả thi hoặc nguồn tài chính cho việc triển khai các giải pháp thích ứng. Những lỗ hổng và hạn chế của kinh nghiệm quốc tế là hoàn toàn dễ hiểu, vì thích ứng với BĐKH là một mối quan tâm tương đối mới trong quá trình ra quyết định của chính quyền địa phương.
Theo mô tả của Füssel & Klein (2006), sự phát triển của các đánh giá về BĐKH trong vòng 20 năm qua thể hiện ở việc nó đã chuyển từ bước chỉ tập trung vào tác động của BĐKH, đến việc tập trung phân tích tính dễ bị tổn thương của tác động BĐKH, và cuối cùng là đề ra các phương án để giảm nhẹ mức độ tổn thương đó [43]. Chủ đề cuối cùng này chính là mối quan tâm chính của tác giả khi đánh giá quá trình xây dựng KHHĐ. Đối với các nước thu nhập thấp, các nhà tài trợ, chính phủ các nước, và các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế thường đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy nỗ lực xây dựng KHHĐ ứng phó với biến khí hậu cấp địa phương [59]. Có rất nhiều tài liệu hướng dẫn hay sổ tay dành cho đối tượng chính quyền địa phương về việc lập KHHĐ ứng phó với BĐKH.
Một số tài liệu này được xây dựng để sử dụng ở một số địa phương cụ thể (như Anh, Canada, hoặc một số bang ở Mỹ hoặc Úc). Một số tài liệu khác thì nhắm tới các thành phố hoặc chính quyền địa phương ở các nước 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đang phát triển. Các tài liệu hướng dẫn này đưa ra nhiều định hướng và cung cấp các bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng KHHĐ tại địa phương. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu những hướng dẫn như vậy có áp dụng được trong điều kiện thực tế với các khó khăn thách thức của chính quyền địa phương hay không.
Do đó, bằng chứng về những kinh nghiệm quý giá phần lớn dựa vào những gì chính quyền địa phương đã đạt được, chứ không chỉ là kiến nghị của nhóm chuyên gia và tác giả các tài liệu hướng dẫn. Những bài học điển hình của thế giới Để có thêm thông tin so sánh kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình xây dựng KHHĐ và làm rõ hơn các khuyến nghị phía cuối của Luận văn, tác giả tổng hợp các bài học điển hình của thế giới thành 6 nhóm bài học, được miêu tả cụ thể sau đây : 1. Sử dụng hiệu quả cơ sở khoa học khí hậu và xác định tính không chắc chắn Chính quyền địa phương không có đủ nguồn lực kỹ thuật để thực hiện các phân tích khoa học về dữ liệu khí hậu, vì vậy họ cần phải được cung cấp những dữ liệu phân tích này để phục vụ cho quá trình xây dựng kế hoạch. Có rất nhiều ví dụ về các tổ chức quốc tế đã tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách truy cập các số liệu và phân tích khoa học về khí hậu dễ dàng và không tốn chi phí.
Mô hình UKCIP (Chương trình Thông tin khí hậu của Anh) là một mô hình mới và có tầm ảnh hưởng, đã phát triển một loạt các kịch bản khí hậu cho khu vực và số liệu mô hình chi tiết hóa, cũng như nhiều công cụ hỗ trợ việc lập kế hoạch ứng phó với khí hậu tại địa phương và hướng dẫn ứng dụng, và sau đó công bố công khai thông qua các trang web cùng với các công cụ có thể tải về.[38] Các ví dụ khác ở khu vực Bắc Mỹ bao gồm Chương trình Tác động Khí hậu khu vực Thái Bình Dương (PCIC) đã hỗ trợ lập KHHĐ ở Vancouver và các thành phố khác thuộc British Columbia; và Nhóm nghiên cứu về BĐKH thuộc Đại học Washington đã hỗ trợ xây dựng KHHĐ ở Seattle. Các website này cung cấp thông tin khí hậu cho các nhà hoạch định và cộng đồng [52]. Kiến thức chuyên môn là cần thiết trong việc xử lý và diễn giải dữ liệu khí hậu, tuy nhiên điều này không có nghĩa là lập KHHĐ khí hậu chủ yếu chỉ liên quan đến các vấn đề kỹ thuật. Cơ sở vững chắc về khoa học khí hậu hỗ trợ việc đánh giá rủi ro và quyết định lập kế hoạch, nhưng những quyết định này không thuộc phạm trù kỹ thuật, mà là những lựa chọn, đánh đổi và thiết lập 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Quyết định trong lập kế hoạch phụ thuộc vào mục tiêu và hướng ưu tiên–là những vấn đề vốn mang bản chất chính trị. Đánh giá rủi ro và xác định các nhóm dễ bị tổn thương Kinh nghiệm quốc tế cho thấy để xây dựng được một kế hoạch ứng phó hiệu quả cần xác định được các nhóm, ngành và khu vực địa lý dễ bị tổn thương. Không phải tất cả các nhóm đều bị ảnh hưởng theo cùng một cách hay cùng một mức độ, vì vậy điều quan trọng là phải hiểu được từng khía cạnh dễ bị tổn thương của từng nhóm để đưa ra ứng phó nhằm xây dựng khả năng thích ứng trước từng tác động cụ thể của BĐKH tới những khu vực dễ bị tổn thương nhất. Việc đưa vào nội dung về đánh giá tính dễ bị tổn thương có thể đảm bảo rằng KHHĐ ứng phó với BĐKH chỉ ra được nhu cầu của những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đồng thời hỗ trợ các mục tiêu kinh tế-xã hội lớn hơn, chẳng hạn như xóa đói giảm nghèo, cải thiện nhà ở đô thị, dịch vụ cơ sở hạ tầng hiệu quả hơn, và bảo tồn hệ sinh thái [43].
Tính dễ bị tổn thương thường được định nghĩa là hàm của mức độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng. Tính dễ bị tổn thương chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như vị trí, giàu nghèo, thu nhập, giới tính, sở hữu đất đai, đăng ký nhân khẩu, và đôi khi là các yếu tố khác như tuổi tác, sức khỏe, dân tộc. Các yếu tố này tác động đến mức độ tiếp cận của các nhóm xã hội với các cơ sở hạ tầng, đất đai, hệ sinh thái, giúp bảo vệ họ trước các tác động của BĐKH. Ở cả hai nhóm nước có thu nhập cao và thu nhập thấp, tính dễ bị tổn thương với BĐKH và sức khỏe cộng đồng có quan hệ tương quan với tình trạng kinh tế xã hội [50].