CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan một số vấn đề lý luận liên quan đến đăng ký đất đai 1. Khái niệm về đăng ký đất đai Đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về đăng ký đất đai. Theo Economic Commission for Europe (2004), đăng ký đất đai là quá trình xác lập quyền của chủ sở hữu, sử dụng đất đai theo hình thức đăng ký bằng văn bản và đăng ký những hồ sơ khác liên quan với chuyển giao quyền sở hữu đất đai hoặc dưới hình thức đăng ký quyền sở hữu đất đai.
Kết quả của quá trình đăng ký được thể hiện trong sổ đăng ký với những thông tin về chủ sở hữu và chủ quyền hoặc những thay đổi về quyền đối với những đơn vị đất đai cụ thể. Theo McLaughlin & Nichols (1989); Zevebergen (2002), đăng ký đất đai là một quá trình ghi nhận các quyền lợi hợp pháp đối với đất đai. Tại Việt Nam, theo khoản 19, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003, đăng ký Quyền sử dụng đất (QSDĐ) là việc ghi nhận QSDĐ hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Bên cạnh đăng ký QSDĐ còn thực hiện đăng ký nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đai.
Như vậy, khái niệm đăng ký QSDĐ chưa bao hàm hết nội dung đăng ký là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đai. Để có khái niệm bao quát hơn, Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm đăng ký đất đai. Theo khoản 15, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013, đăng ký đất đai là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về QSDĐ, quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính. Từ những phân tích kể trên, có thể hiểu, đăng ký đất đai là quá trình thực hiện kê khai và ghi nhận vào hồ sơ địa chính tình trạng pháp lý của đất đai hay QSDĐ của chủ sở hữu đất đai hay chủ sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đai.
Phân loại đăng ký đất đai Hiện nay, có hai hình thức đăng ký đất đai phổ biến, bao gồm đăng ký chứng thư và đăng ký quyền: Đăng ký chứng thư là việc giấy cấp chứng nhận công nhân giao dịch đất đai hoàn thành (Meredith, 2014). Việc đăng ký chủ yếu để chứng minh giao dịch đã được thực hiện nhưng không thể là chứng cứ pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với đất đai. Như vậy, chứng thư chỉ là bằng chứng cho thấy sự xuất hiện của một giao dịch cụ thể (Henssen, 1995). Do vậy, để đảm bảo an toàn cho quyền lợi của mình, người mua phải điều tra ngược về quá khứ, truy tìm nguồn gốc chủ quyền đối với thửa đất mình muốn mua (Henssen, 1995).
Đăng ký chứng thư được áp dụng tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của hệ thống luật La Mã như Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, các vùng của Châu Phi và Châu Á (Henssen,1995). Ưu điểm của đăng ký chứng thư là thủ tục thực hiện nhanh chóng (Zevenbergen, 2002). Tuy nhiên, hệ thống đăng ký này có hạn chế khi chỉ thực hiện đăng ký về mặt pháp lý mà không bảo đảm về quyền sở hữu đất đai, đồng thời có chi phí lớn và có thể phát sinh tranh chấp. Đăng ký quyền là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ đăng ký các quyền lợi của người sử dụng đất tại thời điểm đăng ký.
Đối tượng của đăng ký quyền là thửa đất chứ không phải chủ sở hữu hoặc các giấy tờ về giao dịch đất đai (Zevenbergen, 2002). Khi phát sinh giao dịch về đất đai thì tên của chủ sở hữu đã được đăng ký có thể thay đổi, còn quyền lợi đối với thửa đất vẫn duy trì. Trường hợp chỉ chuyển giao một phần thửa đất thì thực hiện tách thửa, đăng ký và lập hồ sơ địa chính cho thửa đất mới. Các thủ tục đăng ký đất đai được thực hiện tại cơ quan Nhà nước và không cần thực hiện điều tra xác định nguồn gốc đất đai (Đặng Anh Quân, 2011).
Đăng ký quyền đóng vai trò quan trọng nhằm bảo đảm quyền sở hữu cho người đăng ký và 6 hạn chế khiếu nại, tranh chấp đất đai. Đăng ký quyền được phân thành 3 nhóm: nhóm tiếng Anh (Anh, Ireland, một số tỉnh của Canada, Nigeria); nhóm Đức/Thụy Sĩ (Đức, Áo, Alsace-Lorraine, Thụy Sĩ, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đan Mạch) (FAO, 2003); nhóm Torrens (Malaysia, Singapore, một số tiểu bang của Hoa Kỳ, Úc, New Zealand và một số tỉnh của Canada… (Griggs, 2017). Các loại đăng ký quyền được thực hiện theo một nguyên tắc thống nhất song có sự khác nhau về thủ tục thực hiện. Trong đó, hệ thống Torrens có ưu điểm khắc phục được tồn tại của hệ thống đăng ký chứng thư bằng việc tạo ra một hệ thống đăng ký đất đai có khả năng cung cấp các thông tin an toàn, chính xác về quyền sở hữu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển quyền đất đai.
Tại Việt Nam, mô hình đăng ký quyền được áp dụng, tuy nhiên theo tính chất của việc đăng ký mà đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất được phân thành đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu và đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Vai trò của đăng ký đất đai Bảo vệ chế độ sở hữu đất đai: Chức năng chính của đăng ký đất đai là cung cấp sự bảo đảm về quyền sở hữu và giao dịch đất đai được hiệu quả (Wayumba, 2013). Bảo vệ chế độ sở hữu đất đai thực chất là việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời giám sát họ trong việc thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước và lợi ích chung của toàn xã hội. Hồ sơ địa chính, GCNQSDĐ cung cấp thông tin đầy đủ nhất và là cơ sở pháp lý chặt chẽ để xác định, bảo vệ quyền của người sử dụng đất khi bị tranh chấp, xâm phạm cũng như xác định các nghĩa vụ mà người sử dụng đất phải tuân thủ theo pháp luật.
Tạo điều kiện cho thị trường bất động sản phát triển: đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ là cơ sở để thực hiện các giao dịch về đất đai. Hệ thống đăng 7 ký đất đai hoạt động tốt tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch đất đai nhanh hơn và rẻ hơn. Ngoài ra, đăng ký đất đai cũng là điều kiện để các chủ sở hữu, sử dụng đất có thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để đầu tư vào thị trường bất động sản. Bảo đảm quản lý chặt chẽ, hiệu quả toàn bộ quỹ đất: Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai là toàn bộ diện tích các loại đất trong phạm vi lãnh thổ của các cấp hành chính.
Vì vậy, Nhà nước muốn quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai thì trước hết phải nắm chắc các thông tin theo yêu cầu của quản lý đất đai như thông tin về thửa đất; thông tin về chủ sở hữu, sử dụng đất đai; thông tin giao dịch đất đai… Tất cả các thông tin trên phải được thể hiện chi tiết tới từng thửa đất (Phan Thị Thanh Huyền & cs, 2021). Bảo đảm thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai: đăng ký đất đai không chỉ tạo tiền đề mà còn là cơ sở cần thiết cho việc triển khai thực hiện tốt các nội dung, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai. Kết quả đăng ký đất đai cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin về tình hình sử dụng đất để đánh giá, đề xuất, bổ sung hoặc điều chỉnh các chủ trương, chính sách, chiến lược quản lý và sử dụng đất đai. Hồ sơ địa chính còn là căn cứ đầy đủ, tin cậy nhất hỗ trợ công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp đất đai; quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất.
Thông qua đăng ký đất đai, chất lượng tài liệu đo đạc sẽ được hoàn thiện, khắc phục những sai sót do người sở hữu, người sử dụng đất đai và cơ quan đăng ký phát hiện. Mô hình đăng ký đất đai của một số nước trên thế giới Trên thế giới có nhiều hệ thống đăng ký quyền khác nhau. Tuy nhiên, chúng chỉ khác nhau về quy trình pháp lý còn về bản chất thì cơ bản như nhau. Việc phân loại các hệ thống đăng ký quyền thường dựa trên các yếu tố về mức độ bảo hiểm của Nhà nước đối với quyền được đăng ký, nguyên tắc 8 chỉnh lý hồ sơ và hệ thống bản đồ sử dụng trong đăng ký và phương pháp thiết lập hồ sơ ban đầu.
Australia: Đăng ký quyền (hệ thống Toren) Công tác quản lý nhà nước, bao gồm công tác đăng ký quyền sở hữu đất đai và các dịch vụ liên quan đến đất đai do cơ quan quản lý đất đai của các bang giữ nhiệm vụ chủ trì. Các cơ quan này đều phát triển theo hướng sử dụng một phần đầu tư của chính quyền bang và chuyển dần sang cơ chế tự trang trải chi phí. Ban đầu Giấy chứng nhận được cấp thành 2 bản, 1 bản giữ lại Văn phòng đăng ký và 1 bản giao chủ sở hữu giữ. Từ năm 1990, việc cấp GCN dần chuyển sang dạng số.
Bản gốc của GCN được lưu giữ trong hệ thống máy tính và bản giấy được cấp cho chủ sở hữu. Ngày nay, tại Văn phòng GCN, người mua có thể kiểm tra GCN của BĐS mà mình đang có nhu cầu mua. Những đặc điểm chủ yếu của Hệ thống ĐKĐĐ và bất động sản của Úc: - GCN được đảm bảo bởi Nhà nước; - Hệ thống đăng ký đơn giản, an toàn và tiện lợi; - Mỗi trang của sổ đăng ký là một tài liệu duy nhất đặc trưng cho hồ sơ hiện hữu về quyền và lợi ích được đăng ký và dự phòng cho đăng ký biến động lâu dài; - GCN đất là một văn bản được trình bày dễ hiểu cho công chúng; - Sơ đồ trích lục thửa đất trong bằng khoán có thể dễ dàng kiểm tra, tham khảo; - Giá thành của hệ thống hợp lý, tiết kiệm được chi phí và thời gian xây dựng; - Hệ thống được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, dễ dàng cập nhật, tra cứu cũng như phát triển đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012, Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai). Văn phòng đăng ký đất đai của Northern Territory Văn phòng đăng ký quyền đất đai tại Northern Territory là một bộ phận của Văn phòng đăng ký trung ương.