CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lí luận về đất nông nghiệp 1. Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp a) Khái niệm đất Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là lớp thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng.
Đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản. Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đocuptraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất xem như một thể sống nó luôn vận động và phát triển.Mac: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”.
Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”. Như vậy đã có nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển,lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội loài người. 5 b) Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
[10] c) Phân loại đất nông nghiệp *) Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm. • Đất trồng cây hằng năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi. Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hằng năm khác. +) Đất trồng lúa: là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước chính, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương.
+) Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất tự nhiên có cải tạo. +) Đất trồng cây hằng năm khác: là đất trồng hằng năm không phải là đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu trồng màu, hoa, cây thuốc, đay, mía,. Cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng trồng cây hằng năm khác và nương rẫy trồng cây hằng năm khác. • Đất trồng cây lâu năm khác: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hằng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, chuối, dứa, nho, v.bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác.
6 *) Đất lâm nghiệp: là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã bị khai thác chặt phá, hỏa hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới; bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. • Đất rừng sản xuất: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi sản xuất, đất trồng rừng sản xuất. • Đất rừng đặc dụng: là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia bảo vệ di tích lịch sử. bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng tự nhiên đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng.
*) Đất nuôi trồng thủy sản: là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản; bao gồm đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt. *) Đất làm muối: là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối. *) Đất nông nghiệp khác: là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở vườn ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp. [10] Nghiên cứu về đất tại xã Phương Viên chỉ có 4 loại đất nông nghiệp cơ bản, không có đất làm muối vì xã Phương Viên là một xã vùng núi.
Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện sống của động vật - thực vật và con người trên trái đất. Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp của loài người. Đất đai tham 7 gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội. Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau.
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới,. để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển.
Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động. Con người sử dụng đất đai để trồng trọt chăn nuôi. Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp. Với sinh vật đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.
Năng xuất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai. Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng. Vì vậy việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hòa nước chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở, ổn định mạch nước ngầm.
Muốn làm tăng năng xuất đất đai phải giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả. Đặc điểm kinh tế của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất vật chất. Trên phương diện kinh tế, đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: * Đất đai là tư liệu không thể thay thế được Đất đai là tư liệu sản xuất vì nó vừa là tư liệu lao động khi đất đai sản ra sản phẩm, vừa là đối tượng lao động khi đất đai chịu tác động của công cụ lao động. Con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào đất để làm ra sản phẩm.
8 Nét đặc biệt của tư liệu sản xuất này là sự khác biệt với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng. Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hao mòn và hỏng hóc, còn đất đai nếu sử dụng hợp lí, khoa học thì sẽ một tốt hơn. Đặc điểm này có được là do đất đai có độ phì nhiêu. [5] * Đất đai là sản phẩm tự nhiên Đất đai là sản phẩm của tự nhiên không do lao động sáng tạo ra.
Song thông qua lao động để thỏa mãn mong muốn của mình, con người làm thay đổi giá trị và độ phì nhiêu của đất đai. [10] * Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của của con người và thuộc sở hữu chung của toàn xã hội. Theo luật đất đai thì đất thuộc sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí. Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức xã hội, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài dưới hình thức giao đất.
Nhà nước có thể thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất. [5] * Diện tích đất là có hạn Diện tích đất đai là có hạn do giới hạn của từng nông trại, của từng hộ nông dân, từng vùng. Quỹ đất nông nghiệp ngày càng có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao của đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng như đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một tăng.