Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp, hệ thống canh tác và hệ thống sử dụng đất 1.1 Tình hình sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới 1.1 Những vấn đề chung về sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất chính chiếm tỉ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới ở các nước đang phát triển, nông nghiệp nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm trong nước và tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ về cho quốc gia. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), hiện tại dân số thế giới có trên 7 tỉ người thì lượng lương thực còn có thể đáp ứng được, tuy nhiên khả năng sản xuất nông nghiệp là không đồng đều giữa các vùng. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha, còn lại đa phần là những loại đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mĩ 35%, châu Á 26%, châu Âu 13%, châu Phi 20%, châu Đại Dương 6%.
Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12. Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha, Malaysia 0,27 ha, Philippin 0,13 ha, Thailand 0,42 ha, Việt Nam 0,1 ha. Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), dân số thế giới tăng nhanh trong vòng 25 năm (1965-1990) là 68,5% (từ 3.027 triệu người đến 5.100 triệu người) trong khi đó diện tích đất canh tác chỉ tăng 9,7% (từ 1.380 triệu ha đến 1. Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người giảm 45,6% (từ 5.
Dự kiến tính đến năm 2025 dân số thế e 5 giới tăng lên 8.300 triệu người, đất canh tác tăng lên không đáng kể (1.650 triệu ha), do đó diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người sẽ tiếp tục giảm chỉ còn 1. Việt Nam là nước có diện tích không lớn, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, dân số đứng thứ 2, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp, với gần 80% dân số là nông dân, hiện nay nước ta vẫn đang thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế kém phát triển. Theo số liệu thống kê (Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội năm 2008), diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác của Việt Nam có sự biến động lớn: năm 1990 diện tích đất nông nghiệp 9.000 ha, diện tích đất canh tác là 8.500 ha, bình quân đất canh tác trên đầu người là 1.223 m2, đến năm 2008 diện tích đất nông nghiệp là 11.800 ha, diện tích đất canh tác là 10.300 ha, bình quân đất canh tác trên đầu người 1. Sản xuất nông nghiệp và vấn đề suy thoái đất nông nghiệp Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện sản xuất lạc hậu hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón.
Báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới (ESCAP/FAO/UNIDO), cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng. Dự án điều tra, đánh giá mức độ thoái hoá đất ở một số nướcvùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây hội ngộ khối các trường Đại học Đông Nam châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái e 6 nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị giảm.
Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và do đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống. Theo nghiên cứu của FAO (1976), đã đưa ra phương pháp đánh giá đất đai tự nhiên có xem xét thêm về yếu tố kinh tế chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường. Theo tài liệu của FAO (1993), trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích. Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng, 6,67 triệu ha đất bị chua mặn, 4 triệu ha đất bị úng, lầy.
Ở ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt. Tại khu vực Châu á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Theo kết quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu á: 30 tấn/ha.
Đối với Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất đai ở vùng Trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca, Mg. Đất phù sa sông Hồng có hàm Lượng dinh dưỡng khá, song trong quá trình thâm canh với hệ số sử dụng đất cao từ 2 - 3 vụ trong năm, nên Lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi lớn hơn nhiều so với lượng dinh dưỡng bón vào đất. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị suy thoái thì N, P là hai yếu tố cần được bổ sung thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO). Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình thức sử dụng đất hợp lý hoặc chưa xác định được các e 7 công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất, đặc biệt đối với vùng đất dốc mà trồng cây Lương thực, có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu.
Bên cạnh đó, suy thoái đất còn liên quan tới điều kiện kinh tế xã hội của vùng. Trong điều kiện nền kinh tế khó khăn, người dân chỉ tập trung chủ yếu vào trồng cây Lương thực, như vậy gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường.S cũng đã chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất cũng là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa, cho chính môi trường”. Những nghiên cứu về hệ thống canh tác nông nghiệp Hệ thống canh tác nông nghiệp là một hệ thống độc lập, ổn định giữa các hoạt động sản xuất được xác định trên cơ sở phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người, do đó khi xem xét, đánh giá một hệ thống canh tác tại một vùng nào đó có phù hợp hay không, chúng ta phải đánh giá chúng trong mối quan hệ tổng hoà với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đó.
Như vậy, hệ thống sản xuất nông nghiệp là một tổ hợp sản xuất bao gồm nhiều ngành nghề có mối quan hệ mật thiết với nhau từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Cấu trúc của hệ thống không phải là phép cộng đơn giản các yếu tố, các đối tượng. Chúng có tác động qua lại với nhau và có quan hệ ràng buộc với môi trường. Phân tích hệ thống canh tác nông nghiệp là vấn đề quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển nông nghiệp nó vừa là hệ thống sinh thái, chính trị, xã hội, vừa là một đơn vị độc lập về hoạt động kinh tế, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau do cùng sử dụng chung lao động, đất đai, vốn và sự rủi ro.
Hệ thống canh tác nông hộ là một đơn vị tự quyết định có tính hữu hiệu cao, trong đó việc trồng trọt và chăn nuôi được tiến hành để thoả mãn các mục tiêu của người nông e 8 dân. Do vậy, hệ thống canh tác là một hệ thống định hướng mục tiêu. Đối với những hộ sản xuất nhỏ mục tiêu chính của họ là tự cung, tự cấp, nhằm thoả mãn cho việc tiêu dùng cá nhân hơn là sản xuất hàng hoá, do vậy hệ thống sản xuất và nông hộ luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ. Phần lớn các nông hộ nhỏ sản xuất chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu vì Lương thực thực phẩm của họ, nó phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nông hộ.
Song đối với hộ sản xuất lớn, việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận và giải quyết việc làm là mục tiêu chính của họ. Do vậy, hệ thống canh tác không chỉ phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của từng nông hộ mà còn phụ thuộc vào những đặc điểm xã hội. Hệ thống canh tác nông nghiệp là một tổ hợp cây trồng trong không gian và thời gian của một vùng khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù, trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái thông qua các động, thực vật và các chất khoáng, các hoá chất trong đất, nướcvà không khí, tham gia vào nhiều chu trình chuyển giao năng lượng cho chuỗi thức ăn.
Do vậy tính đa dạng và bảo tồn dinh dưỡng, chống chịu sâu bệnh xâm nhập và có thể đứng vững với sự dao động khí hậu trong phạm vi rộng. Các hoạt động khác nhau trong sản xuất nông nghiệp đã tham gia vào việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên lao động, máy móc và tiền vốn của nông hộ hay trang trại. Các hoạt động của chăn nuôi và trồng trọt khác nhau theo thời gian thì yêu cầu về máy móc, sức lao động, nhà xưởng, vốn đầu tư, nước tưới cũng khác nhau.