Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây cao su (Hevea brasiliensis) giữ vai trò là một trong những cây công nghiệp dài ngày chủ lực của Việt Nam, cung cấp mủ cao su thiên nhiên phục vụ xuất khẩu thu ngoại tệ và cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước. Theo chủ trương của Chính phủ tại Quyết định số 86/TTg ngày 05/02/1996, mục tiêu phát triển diện tích cao su giai đoạn 2005 – 2010 đạt 700.000 ha tại miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó diện tích cao su tiểu điền (tư nhân) chiếm 350.000 ha.

Trong kỹ thuật khai thác mủ cao su, việc ứng dụng chất kích thích mủ chứa hoạt chất Ethephon (thương phẩm Ethrel) kết hợp với chế độ cạo thích hợp là biện pháp kỹ thuật then chốt tác động trực tiếp đến sản lượng và chất lượng vườn cây. Trước đây, việc lạm dụng chất kích thích ở nồng độ cao (5% – 10%), bôi nhiều lần trong năm và duy trì cường độ cạo nặng ($d/2$ - cạo 1 ngày nghỉ 1 ngày) đã dẫn đến hiện tượng vườn cây kiệt sức, suy giảm sản lượng nghiêm trọng và gia tăng tỷ lệ khô miệng cạo. Ngày nay, quy trình kỹ thuật chuẩn đòi hỏi phải kết hợp bôi thuốc kích thích ở nồng độ thấp với việc giảm cường độ cạo xuống mức $d/3$ (cạo 1 ngày nghỉ 2 ngày) nhằm vừa gia tăng năng suất, giảm chi phí nhân công, vừa bảo vệ vỏ cạo và kéo dài chu kỳ kinh doanh của cây.

Tại Nông trường VII thuộc Công ty TNHH MTV Thanh niên xung phong (TNXP) Tây Ninh (huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh), bên cạnh diện tích quốc doanh đã áp dụng đồng bộ kỹ thuật mới, các nông hộ nhận khoán và liên kết trồng cao su vẫn tồn tại tình trạng chưa áp dụng hoặc áp dụng sai quy trình kỹ thuật (sử dụng nồng độ cao, cạo cường độ nặng $d/2$). Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Ngọc Nàn đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khuyến nông - Phát triển nông thôn với các mục tiêu và phạm vi cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Mô tả và đánh giá hiệu quả sản xuất của việc sử dụng chất kích thích mủ kết hợp cường độ cạo trên cây cao su tại địa bàn.
    2. Tìm hiểu triển vọng ứng dụng của biện pháp kỹ thuật mới trong điều kiện sản xuất nông hộ.
    3. Rút ra các ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong việc tiếp nhận và thực hành kỹ thuật mới của người dân.
    4. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, kinh tế và khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ canh tác cao su.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vườn cây cao su thời kỳ kinh doanh, hoạt động sản xuất kinh doanh của Nông trường VII và toàn bộ 46 nông hộ trồng cao su trên địa bàn.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Nông trường VII, đóng tại ấp 7, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
    • Thời gian: Thu thập và phân tích chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2000 – 2006 và số liệu điều tra thực tế trong năm 2005, 2006 cùng 6 tháng đầu năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống phân tích dựa trên cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ và đặc tính sinh lý học của cây cao su:

  • Lý luận về kinh tế hộ và chính sách: Vận dụng các quan điểm phát triển kinh tế nông hộ từ Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VII) và Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại. Kinh tế hộ nông dân được xác định là đơn vị sản xuất cơ sở tự chủ, có ưu thế về sự gắn kết lao động gia đình nhưng gặp hạn chế về quy mô vốn, trình độ kỹ thuật và khả năng tiếp cận thông tin thị trường.
  • Cơ sở sinh lý học khai thác mủ: Cây cao su thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Mạch mủ phân bố nghiêng từ phải qua trái ở góc $3^\circ - 5^\circ$, tập trung chủ yếu ở lớp da lụa sát tầng sinh mô. Mủ chảy ra khi cạo do chênh lệch áp suất thẩm thấu (10 – 12 atm). Quá trình ngưng chảy mủ được quy định bởi sự vỡ hạt lutoid tạo các nút bít đông đặc tại đầu ống mủ. Hoạt chất Ethephon (Acid 2-chloroethylphosphonic) trong chất kích thích Ethrel khi thẩm thấu qua vỏ cây sẽ thủy phân giải phóng khí Ethylen ($C_2H_4$), làm chậm quá trình tạo nút bít lutoid, kéo dài thời gian chảy mủ từ mức bình thường (50 – 150 phút) mà không cần tăng tần suất cạo.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh, số liệu thống kê đất đai, lao động, giá cả từ Phòng Kế hoạch - Nông nghiệp, Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương, Phòng Kế toán - Tài vụ của Nông trường VII và Công ty TNHH MTV TNXP Tây Ninh.
    • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện điều tra tổng thể toàn bộ $n = 46$ nông hộ trồng cao su trên địa bàn ($46/46$ hộ, quản lý tổng diện tích 579,3 ha) bằng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp khảo sát trực tiếp tình trạng vỏ cạo và bệnh khô miệng cạo tại vườn cây.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, phân tổ thống kê, so sánh kinh tế giữa nhóm hộ áp dụng và không áp dụng kỹ thuật mới, so sánh giữa chế độ cạo $d/2$ và $d/3$.
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá:
    • Chỉ tiêu kỹ thuật: Năng suất mủ quy khô (tấn/ha hoặc kg/ha), mức độ hao vỏ cạo hàng năm (cm), tỷ lệ cây khô miệng cạo (%).
    • Chỉ tiêu kinh tế: Chi phí vật chất (phân bón, thuốc kích thích, thuốc BVTV, vật tư cạo), chi phí lao động (chăm sóc, khai thác), khấu hao kiến thiết cơ bản (KTCB), tổng doanh thu, lợi nhuận thuần, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí ($LN/CP$), tỷ suất doanh thu tăng thêm trên chi phí tăng thêm ($\Delta DT/\Delta CP$), tỷ suất lợi nhuận tăng thêm trên chi phí tăng thêm ($\Delta LN/\Delta CP$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh phát triển cao su tiểu điền tại Tây Ninh. Tác giả nêu rõ mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng sản lượng mủ để đón đầu mức giá xuất khẩu tăng cao với thực trạng nông dân thiếu kiến thức kỹ thuật, áp dụng chế độ kích thích và cường độ cạo sai quy trình làm tổn hại vườn cây. Chương này xác định rõ mục đích, ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và bố cục 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan địa bàn và đối tượng nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Nông trường VII (ấp 7, xã Suối Dây, huyện Tân Châu):

  • Điều kiện tự nhiên: Địa hình bằng phẳng, 93,75% diện tích (1.059,38 ha) là đất xám trên phù sa cổ có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước nhưng giữ màu kém; 6,25% (70,62 ha) là đất xám mùn ven suối. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình $27^\circ\text{C}$, lượng mưa tập trung 85,6% – 90% vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11).
  • Điều kiện dân sinh - lao động: Dân số trên địa bàn có 98 hộ với 713 nhân khẩu, tổng số lao động là 596 người (lao động nữ chiếm 44,63%). Trình độ học vấn nhìn chung thấp: bậc tiểu học và dưới tiểu học chiếm 32,71%, cấp II chiếm 30,70%, THPT chiếm 25,27%, trình độ đại học chỉ đạt 4,34%.
  • Chuyển dịch cơ cấu đất đai: Diện tích trồng cao su tăng mạnh từ 575 ha năm 2001 (chiếm 51,18% đất nông nghiệp) lên 1.016,5 ha năm 2007 (chiếm 90,48%). Ngược lại, diện tích cây ngắn ngày (mía, mì) giảm hoàn toàn về 0 ha vào các năm 2005 – 2006 do giá mủ cao su tăng cao (từ 11.021 đ/kg năm 2002 lên 28.377 đ/kg năm 2006).
  • Tình hình sản xuất Nông trường VII: Nông trường quản lý 413,7 ha cao su (277,5 ha đang khai thác và 100% diện tích này đã áp dụng bôi thuốc kích thích kết hợp cạo giãn chu kỳ). Năng suất mủ bình quân toàn nông trường tăng từ 1,43 tấn/ha (năm 2000) lên 2,32 tấn/ha (năm 2006), tổng lợi nhuận năm 2006 đạt trên 10,9 tỷ đồng.

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này tổng kết khung lý luận về vai trò của cây cao su, cơ chế tác động của hoạt chất Ethephon, kỹ thuật khai thác mủ cao su tiểu điền và phương pháp hạch toán chi phí - kết quả sản xuất. Tác giả thiết lập hệ thống thu thập số liệu qua mẫu điều tra toàn bộ 46 nông hộ và quy trình tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trên 1 ha cao su kinh doanh năm thứ 6.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả phân tích số liệu điều tra:

  • Đặc điểm nông hộ điều tra: Có 40/46 hộ (491,3 ha, chiếm 92,38% diện tích) đã áp dụng kỹ thuật bôi chất kích thích kết hợp cường độ cạo; 6 hộ (40,5 ha, chiếm 7,62%) chưa áp dụng do hạn chế về vốn (chi phí đầu tư tăng thêm 7 – 10 triệu đồng/ha), tay nghề công nhân cạo kém hoặc mật độ trồng quá dày làm cây nhiễm bệnh nấm hồng.
  • Thực trạng sử dụng lao động: Các nông hộ phụ thuộc chủ yếu vào lao động thuê ngoài (chiếm 87,10% tổng công lao động; lao động gia đình chỉ chiếm 12,90%, chủ yếu đảm nhận khâu quản lý, giao bán mủ).
  • Tương quan kỹ thuật và trình độ chủ hộ: Trong 40 hộ áp dụng kỹ thuật mới, có 28 hộ áp dụng đúng cường độ cạo $d/3$ và 12 hộ (chiếm 30%) cạo sai quy trình với cường độ nặng $d/2$. Phần lớn các chủ hộ cạo $d/2$ có trình độ học vấn cấp I, cấp II và số năm kinh nghiệm canh tác dưới 3 năm.
  • Hạch toán kinh tế và so sánh kỹ thuật: Việc áp dụng kỹ thuật mới giúp tăng năng suất mủ từ 1.379,48 kg/ha lên 2.089,23 kg/ha (+51,49%), lợi nhuận thuần tăng từ 20,77 triệu đồng/ha lên 33,87 triệu đồng/ha (+63,07%). Phân tích sâu giữa chế độ cạo $d/2$ và $d/3$ chứng minh cạo $d/2$ tuy tăng doanh thu trước mắt nhưng làm hao vỏ cạo 25,3 cm/năm (vượt 58% mức cho phép) và tỷ lệ cây khô miệng cạo lên đến 4,62% (22 cây/ha), cao gấp nhiều lần so với chế độ cạo $d/3$ (hao vỏ 16,9 cm, khô miệng cạo 1,89%).

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, khẳng định tính ưu việt của biện pháp kỹ thuật mới khi tuân thủ đúng quy trình. Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ cho chính quyền địa phương, ngành khuyến nông và người sản xuất nhằm chấn chỉnh tình trạng cạo ép $d/2$ và nâng cao năng lực canh tác cao su tiểu điền.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể kết quả sản xuất kinh doanh trên 1 ha cao su thời kỳ kinh doanh năm thứ 6 giữa các nhóm hộ tại địa bàn nghiên cứu:

Chỉ tiêu kinh tế Đơn vị tính Hộ chưa áp dụng KT mới Hộ có áp dụng KT mới ($d/3$) Chênh lệch ($\Delta$) Tỷ lệ tăng (%)
1. Chi phí vật chất 1.000 đ 8.469,67 12.878,83 +4.409,16 +52,06%
- Phân bón 1.000 đ 4.435,00 7.435,00 +3.000,00 +67,62%
- Thuốc kích thích mủ 1.000 đ 0,00 225,00 +225,00 -
- Thuốc BVTV, thuốc bôi phòng 1.000 đ 850,00 1.250,00 +400,00 +47,06%
- Dụng cụ cạo, vật tư khác 1.000 đ 2.534,67 3.168,83 +634,16 +25,02%
- Chi phí vận chuyển mủ 1.000 đ 650,00 800,00 +150,00 +23,08%
2. Chi phí lao động 1.000 đ 7.830,14 10.360,75 +2.530,61 +32,31%
- Lao động chăm sóc 1.000 đ 1.755,14 2.125,75 +370,61 +21,11%
- Lao động khai thác (cạo, trút mủ) 1.000 đ 6.075,00 8.235,00 +2.160,00 +35,56%
3. Khấu hao KTCB 1.000 đ 1.850,00 1.850,00 0,00 0,00%
4. Tổng chi phí sản xuất 1.000 đ 18.149,80 25.088,80 +6.939,00 +38,23%
5. Sản lượng mủ quy khô kg/ha 1.379,48 2.089,23 +709,75 +51,49%
6. Đơn giá bán bình quân đ/kg 28.225 28.225 0 0,00%
7. Tổng doanh thu 1.000 đ 38.922,28 58.962,03 +20.039,75 +51,49%
8. Lợi nhuận thuần 1.000 đ 20.772,48 33.873,23 +13.100,75 +63,07%
9. Tỷ suất LN / Tổng CP Lần 1,14 1,35 +0,21 -

Số liệu phân tích gia tăng cho thấy hiệu quả đầu tư kỹ thuật rất rõ nét:

  • Tỷ suất doanh thu tăng thêm trên chi phí tăng thêm: $\Delta DT / \Delta CP = 20.039,75 / 6.939,00 = 2,89$ lần (bỏ ra 1 đồng chi phí tăng thêm mang lại 2,89 đồng doanh thu).
  • Tỷ suất lợi nhuận tăng thêm trên chi phí tăng thêm: $\Delta LN / \Delta CP = 13.100,75 / 6.939,00 = 1,89$ lần (bỏ ra 1 đồng chi phí tăng thêm tạo ra 1,89 đồng lợi nhuận).

Bên cạnh đó, nghiên cứu đã đối chiếu thực nghiệm giữa việc tuân thủ chế độ cạo $d/3$ và cạo ép $d/2$ trong nhóm hộ có sử dụng chất kích thích:

Yếu tố so sánh Nhóm áp dụng cạo $d/2$ (12 hộ) Nhóm áp dụng cạo $d/3$ (28 hộ) Chênh lệch ($d/2$ so với $d/3$)
Chi phí sản xuất (1.000 đ/ha) 27.113,07 25.088,80 +2.024,27 (+8,07%)
Sản lượng mủ khô (kg/ha) 2.252,23 2.089,23 +163,00 (+7,80%)
Doanh thu (1.000 đ/ha) 63.562,60 58.962,03 +4.600,57 (+7,80%)
Lợi nhuận thuần (1.000 đ/ha) 36.449,53 33.873,23 +2.576,30 (+7,60%)
Tỷ suất Lợi nhuận / Chi phí 1,34 lần 1,35 lần -0,01 lần (-0,43%)
Mức độ hao vỏ cạo trung bình 25,3 cm (vượt chuẩn 58%) 16,9 cm (vượt chuẩn 6%) +8,4 cm
Tỷ lệ cây khô miệng cạo 4,62% (22 cây/ha) 1,89% (9 cây/ha) +2,73% (+13 cây/ha)

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  1. Đối với cơ quan Nhà nước và Khuyến nông: Cần tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ thuật cạo mủ và chuyển giao quy trình sử dụng Ethrel; đẩy mạnh chương trình tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT để giải quyết bài toán thiếu vốn đầu tư phân bón (vốn tăng thêm khoảng 7 – 10 triệu đ/ha); nâng cấp hạ tầng giao thông liên xã nhằm giảm chi phí vận chuyển mủ.
  2. Đối với nông hộ: Cương quyết loại bỏ tập quán cạo nặng $d/2$ khi có bôi thuốc kích thích; tuân thủ nghiêm ngặt chế độ cạo $d/3$; tăng cường bón phân hữu cơ sinh học (Biomic) cân đối để bù đắp dinh dưỡng cho cây; chỉ mở miệng cạo khai thác khi chu vi thân cây đạt chuẩn kỹ thuật; đào tạo tay nghề cho công nhân cạo để hạn chế tình trạng cạo phạm vào tầng sinh mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát giới hạn trong địa bàn Nông trường VII (xã Suối Dây, Tân Châu, Tây Ninh), mang tính đặc thù của vùng đất xám bạc màu biên giới Tây Nam, chưa bao quát các vùng đất đỏ bazan hay vùng đất ngập úng.
    • Số liệu hạch toán tập trung chủ yếu vào vườn cây kinh doanh năm thứ 6, chưa theo dõi chu kỳ kinh tế dài hạn xuyên suốt 20 – 25 năm khai thác để đánh giá tổng thể độ bền sinh học và năng suất vỏ tái sinh.
    • Việc phân tích các chỉ tiêu sinh hóa đất và dinh dưỡng lá cây chưa được thực hiện bằng phương pháp phân tích phòng thí nghiệm mà chủ yếu dựa trên quan sát nông học và ghi nhận chi phí vật tư.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu tác động của hoạt chất Ethephon trên các dòng vô tính cao su khác nhau (như PB 235, GT 1, VM 515, RRIM 600) tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Tây Ninh.
    • Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi giá trị và tổ chức dịch vụ khuyến nông chuyên trách nhằm kiểm soát quy trình kỹ thuật khai thác mủ trong khu vực cao su tiểu điền.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp, Nông học: Tham khảo phương pháp thiết kế phiếu điều tra hộ nông dân ($n=46$), kỹ thuật phân tổ thống kê nông hộ và quy trình hạch toán chi phí - hiệu quả sản xuất cây công nghiệp dài ngày.
  • Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông trường: Sử dụng các dẫn chứng số liệu thực tế về hao vỏ cạo (25,3 cm ở chế độ $d/2$ so với 16,9 cm ở chế độ $d/3$) và tỷ lệ khô miệng cạo (4,62% so với 1,89%) làm tài liệu truyền thông, thuyết phục người dân tuân thủ quy trình kỹ thuật cạo mủ bền vững.
  • Các nhà quản lý nông nghiệp địa phương: Tham khảo cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách tín dụng vi mô và tổ chức các lớp đào tạo nghề cạo mủ cho lao động nông thôn tại vùng sâu, vùng xa.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất kích thích mủ sử dụng trong khóa luận là hoạt chất gì và hoạt động theo cơ chế nào?
Chất kích thích được sử dụng có tên thương phẩm là Ethrel, chứa hoạt chất Ethephon (Acid 2-chloroethylphosphonic). Khi tiếp xúc với mô vỏ cây, chất này thủy phân giải phóng khí Ethylen ($C_2H_4$), làm ức chế sự đông đặc của các hạt lutoid, làm chậm quá trình hình thành nút bít tại các đầu mạch mủ, từ đó kéo dài thời gian chảy mủ và làm tăng sản lượng mủ thu hoạch.

2. Chi phí sản xuất trên 1 ha cao su áp dụng kỹ thuật mới tăng thêm bao nhiêu so với hộ không áp dụng?
Tổng chi phí sản xuất cho 1 ha cao su kinh doanh năm thứ 6 có áp dụng kỹ thuật mới là 25.088.800 đồng, tăng thêm 6.939.000 đồng (+38,23%) so với hộ không áp dụng (18.149.800 đồng). Mức tăng này chủ yếu do chi phí phân bón tăng thêm 3.000.000 đồng/ha (để nuôi cây bù lượng mủ đã khai thác) và chi phí công lao động trút mủ 2 lần tăng thêm 2.160.000 đồng/ha.

3. Tại sao cạo cường độ $d/2$ khi có bôi thuốc kích thích lại bị coi là sai quy trình kỹ thuật dù mang lại doanh thu cao hơn?
Mặc dù cạo $d/2$ giúp tăng sản lượng thêm 163 kg/ha và tăng doanh thu thêm 4.600.570 đồng trước mắt, nhưng phương pháp này làm mức hao vỏ cạo lên tới 25,3 cm/năm (vượt 58% định mức) và đẩy tỷ lệ cây khô miệng cạo lên 4,62% (22 cây/ha, cao gấp 2,44 lần so với cạo $d/3$). Hậu quả là làm cây kiệt sức nhanh chóng, phá vỡ quy hoạch vỏ cạo và rút ngắn nghiêm trọng vòng đời khai thác kinh tế của vườn cây.

4. Lý do chính khiến 6 hộ nông dân tại địa bàn chưa áp dụng kỹ thuật mới là gì?
Qua điều tra, các lý do chính gồm: 5 hộ lo ngại tay nghề công nhân cạo kém dễ gây cạo phạm làm hỏng cây khi dùng thuốc; 4 hộ trồng mật độ quá dày làm vườn cây rậm rạp và bị nấm hồng; 6 hộ có chế độ chăm sóc chưa đạt chuẩn; và 2 hộ hoàn toàn thiếu vốn đầu tư tăng thêm (khoảng 7 – 10 triệu đồng/ha cho phân bón và vật tư).

5. Đặc điểm sử dụng lao động của các nông hộ trồng cao su tại Nông trường VII có điểm gì nổi bật?
Phần lớn các nông hộ phụ thuộc rất lớn vào lao động thuê ngoài (chiếm 87,10% tổng công lao động, trong đó thuê 94,25% công khai thác và 92,85% công chăm sóc). Lao động gia đình chỉ đóng góp 12,90% tổng công và chủ yếu giữ vai trò quản lý vườn cây, giám sát và vận chuyển tiêu thụ mủ.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Nàn đã đánh giá toàn diện hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của việc sử dụng chất kích thích mủ Ethrel kết hợp cường độ cạo trên cây cao su tại Nông trường VII - Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc áp dụng kỹ thuật bôi thuốc kích thích kết hợp cường độ cạo giãn $d/3$ giúp gia tăng 51,49% sản lượng mủ và 63,07% lợi nhuận thuần trên mỗi hecta so với phương thức canh tác truyền thống. Công trình cung cấp các chứng cứ định lượng quan trọng về tác hại của chế độ cạo ép $d/2$, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp khuyến nông, tín dụng và đào tạo nghề có giá trị thực tiễn cao cho việc phát triển bền vững ngành cao su tiểu điền tại địa phương.