Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu (Nghiên cứu cụ thể trong điều kiện tỉnh An Giang)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phan Chí Nguyện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thanh Vũ và GS. Lê Quang Trí, bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ vào tháng 03 năm 2021, thuộc chuyên ngành Quản lý Đất đai, mã số 98 05 01 03.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tỉnh An Giang là địa phương có sản lượng lúa dẫn đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long và sở hữu diện tích rau màu tập trung lớn. Mặc dù tỉnh đã ban hành các chủ trương, đề án nhằm đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hiệu quả triển khai thực tế chưa cao, việc nhân rộng mô hình còn thiếu tính đồng bộ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc quy mô đất đai còn manh mún, thiếu quy hoạch tập trung và đặc biệt là chưa có hệ thống tiêu chí rõ ràng, cụ thể làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá, phân vùng thích nghi đất đai phục vụ sản xuất đại trà ngoài đồng ruộng. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chí vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhưng còn mang tính khái quát, các tiêu chuẩn diện tích tối thiểu (như 100 ha đối với rau an toàn) chưa tương thích với thực trạng phân bố đất đai tại địa phương. Do đó, việc xây dựng bộ tiêu chí và quy trình phân vùng thích nghi đất đai cho cây lúa và cây rau màu (cụ thể là cây ngô) tại An Giang là một đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn quản lý đất đai.
Mục tiêu chung của luận án là xác định các cơ sở về điều kiện tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế - xã hội, môi trường và chính sách đất đai nhằm phục vụ việc xây dựng các tiêu chí cho sản xuất lúa và rau màu ứng dụng công nghệ cao của tỉnh An Giang.
Mục tiêu cụ thể được xác định gồm bốn nội dung:
- Xác định và đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu (ngô) tỉnh An Giang.
- Xác định các điều kiện về tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế - xã hội, môi trường và chính sách đất đai để bước đầu xây dựng các tiêu chí sản xuất lúa và rau màu (ngô) ứng dụng công nghệ cao.
- Xây dựng quy trình thực hiện phân cấp tiêu chí phù hợp cho đánh giá phân vùng khả năng thích nghi đất đai cho phát triển lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh An Giang.
- Ứng dụng phân vùng khả năng phát triển cho sản xuất lúa và rau màu ứng dụng công nghệ cao và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa và ngô tại tỉnh An Giang.
Luận án tập trung giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:
- Để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao dạng sản xuất vùng thì cần những yêu cầu nào? Từ những yêu cầu trên thì những tiêu chí nào được chọn cho phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao?
- Trong điều kiện cụ thể của tỉnh An Giang để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì cần những tiêu chí sản xuất nào cho phát triển lúa và rau màu?
- Vùng nào có khả năng phát triển sản xuất lúa và rau màu (ngô) ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh An Giang?
- Những vấn đề gì cần giải quyết để nâng cao khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho nông nghiệp ở tỉnh An Giang?
Giả thuyết nghiên cứu đặt ra là để xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đại trà đạt hiệu quả, ổn định năng suất, gia tăng giá trị, giảm chi phí đầu tư và bảo vệ môi trường, cần xác định được hệ thống yêu cầu và tiêu chí định lượng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cơ sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chí ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đối với lúa và rau màu (trong đó cây ngô được lựa chọn làm đối tượng đại diện cho nhóm rau màu do chiếm diện tích lớn, phù hợp thổ nhưỡng địa phương, năng suất cao và thuận lợi trong khâu bảo quản, tiêu thụ). Hình thức nghiên cứu là loại hình sản xuất theo vùng, canh tác ngoài đồng ruộng ở quy mô đại trà.
Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm 11 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh An Giang: huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Chợ Mới, Châu Phú, Phú Tân, Châu Thành, thị xã Tân Châu, thành phố Châu Đốc và thành phố Long Xuyên. Phạm vi thời gian tập trung vào dữ liệu hiện trạng năm 2019, cùng chuỗi số liệu thống kê biến động diện tích lúa giai đoạn 2001-2019 và diện tích ngô giai đoạn 2010-2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các quan niệm và công trình nghiên cứu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong và ngoài nước:
Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Dương Hoa Xô và Phạm Hữu Nhượng (2006) ghi nhận khái niệm này xuất hiện từ năm 1999, gắn liền với các biện pháp kỹ thuật như biến đổi gen, vi nhân giống, tưới và bón phân nhỏ giọt, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và cảnh báo dịch bệnh sớm. Tại Tây Âu, nông nghiệp công nghệ cao nhấn mạnh tính hiện đại hóa, cơ giới hóa, vận dụng công nghệ sinh học và sinh thái môi trường hướng đến phát triển bền vững. Tại Trung Quốc, khái niệm bao gồm việc áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, viễn thám, tự động hóa, vật liệu mới và laser vào sản xuất.
Ở Việt Nam, định nghĩa từ Vụ Khoa học Công nghệ (2006), Luật Công nghệ cao (2008), Chính phủ (2015) và Nguyễn Văn Bộ (2007) xác định nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp ứng dụng tổng hợp các giải pháp cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và giống chất lượng cao nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai. Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh (2008) và Nguyễn Thơ (2012) nhấn mạnh các tiêu chuẩn về hàm lượng chất xám, tính thích ứng địa phương, hiệu quả kinh tế và an toàn sản phẩm.
Về kinh nghiệm quốc tế, các khu nông nghiệp công nghệ cao phát triển qua nhiều giai đoạn: Mỹ khởi đầu từ năm 1939 (đạt trên 100 khu vào thập niên 1980, ứng dụng cảm biến, GPS, phần mềm quản lý đất đai và tự động hóa); Anh xây dựng vườn khoa học Jian Qiao năm 1961 (đạt 38 vườn vào năm 1988); Phần Lan và Bắc Âu phát triển từ 1981; Trung Quốc có hơn 400 khu kỹ thuật vào năm 2002; Đức phát triển mô hình sản xuất khép kín cuối thập niên 1990; Israel phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên vùng đất sa mạc từ thập niên 1950, đạt giá trị trên 7 tỷ USD/năm với năng suất cà chua trong nhà kính đạt 400 tấn/ha/năm; Đài Loan năm 1978 ứng dụng nhà lưới và thủy canh đạt năng suất cà chua trên 300 tấn/ha/năm; Úc năm 1994 ứng dụng tưới tiết kiệm trên cây xoài đạt năng suất trên 25 tấn/ha.
Các nghiên cứu kỹ thuật chuyên sâu được tác giả tổng hợp gồm:
- Công nghệ sinh học và cây trồng biến đổi gen (CERA, 2012; GMO Compass, 2008; Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2014) với 181,5 triệu ha canh tác tại 128 quốc gia.
- Ứng dụng GIS, viễn thám và mô hình mô phỏng máy tính trong quy hoạch nông nghiệp (Sivakumar và Donald; Jones et al., 2003; Thornly và France, 2007; Raes et al.). Phần mềm quản lý dinh dưỡng của IRRI áp dụng cho lúa và ngô tại các nước Châu Á.
- Kỹ thuật san phẳng đồng ruộng bằng máy có hỗ trợ laser (General technical information, 2007; IRRI, 2007; Walker, 1989) giúp tiết kiệm trên 35% nước tưới và nâng cao sản lượng 50%.
- Kỹ thuật xử lý nước tưới Nano (Bogatin et al., 1999; Goldsworthy et al.; Hilal, 2005) và kỹ thuật tưới ngập khô luân phiên AWD (Tuong et al., 2005; Bouman et al., 2007; Richards và Schafer, 2014) giúp tiết kiệm 15-30% nước tưới và giảm 20-70% lượng phát thải khí metan (CH4).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phạm Văn Hiển (2014), Lê Tất Khương và Trần Anh Tuấn (2014), Đỗ Kim Chung (2018), Nguyễn Tiến Dũng và Lê Khương Ninh (2015), Bùi Thị Minh Nguyệt và Trần Văn Hùng (2016), Ngô Thành Vinh (2016) đã chỉ ra các hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vốn, thiếu liên kết chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ không ổn định. Đến thời điểm nghiên cứu, cả nước có 34 khu nông nghiệp công nghệ cao được quy hoạch (trong đó có 3 khu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Bạc Liêu, Hậu Giang, Phú Yên; các khu còn lại do UBND cấp tỉnh thành lập).
Về cơ sở sinh học và điều kiện phát triển cây trồng:
- Cây lúa: Sinh trưởng qua ba giai đoạn gồm tăng trưởng (dinh dưỡng), sinh sản (trung bình 30 ngày) và chín (trung bình 30 ngày, gồm các thời kỳ chín sữa, chín sáp, chín vàng và chín hoàn toàn) (IRRI, 1991; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Cây thích hợp với đất thịt, thịt pha sét, pH từ 5,5 đến 7,5, ngưỡng nhiệt độ sinh trưởng từ 10°C đến 35°C (Yoshida, 1981).
- Cây ngô: Tên khoa học Zea mays L. (Linnaeus, 1737; Nguyễn Như Hà, 2006). Sinh trưởng qua giai đoạn sinh dưỡng (từ VE đến VT) và sinh thực (từ R1 đến R6) (Ngô Hữu Tình, 2003). Đất trồng thích hợp có pH từ 5,5 đến 7,0; nhiệt độ nảy mầm tối thích từ 25°C đến 30°C, nhiệt độ phát triển từ 21°C đến 27°C (Trần Văn Dư và ctv., 2011; Wallace và Bressman, 1937; Hanna, 1929; Dương Minh, 1999; Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000). Cây ngô cần khoảng 370 lít nước để tạo ra 1 kg chất khô.
Về thể chế, luận án rà soát hệ thống văn bản pháp lý Trung ương (Luật Công nghệ cao 2008; các Quyết định số 176/2010/QĐ-TTg, 1895/2012/QĐ-TTg, 575/2015/QĐ-TTg, 19/2015/QĐ-TTg, 66/2015/QĐ-TTg, 738/QĐ-BNN-KHCN; Nghị quyết số 46/NQ-CP) và các văn bản chỉ đạo của tỉnh An Giang (Nghị quyết 09-NQ/TU; Quyết định số 2163/QĐ-UBND, 494/QĐ-UBND, 1350/QĐ-UBND, 1351/QĐ-UBND, 1433/QĐ-UBND, 929/QĐ-UBND, 1004/QĐ-UBND) cùng văn bản quy định của TP. Hồ Chí Minh (Quyết định số 6150/QĐ-UBND, 25/2017/QĐ-UBND).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào mô hình khu nông nghiệp công nghệ cao dạng tập trung khép kín (nhà màng, nhà kính) hoặc đưa ra các tiêu chí chung cho cả nước mà chưa xây dựng bộ tiêu chí cụ thể, có thể lượng hóa và bản đồ hóa trên nền tảng GIS để phân vùng thích nghi đất đai cho cây lúa và cây ngô canh tác đại trà ngoài đồng ruộng tại một địa bàn cụ thể như An Giang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng khung lý thuyết đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1976 và 2007) và các hướng dẫn chuyên ngành của Beek cũng như Lê Quang Trí (2010). Khung phân hạng thích nghi đất đai được chia thành 4 cấp:
- Bộ (Order): Gồm Bộ thích nghi (S) và Bộ không thích nghi (N).
- Lớp (Class): Thích nghi cao (S1), Thích nghi trung bình (S2), Thích nghi kém (S3), Không thích nghi hiện tại (N1), Không thích nghi vĩnh viễn (N2).
- Lớp phụ (Subclass): Phản ánh các yếu tố hạn chế chính cần cải tạo.
- Đơn vị (Unit): Phân biệt các đặc tính quản lý hoặc khác biệt nhỏ về môi trường, kinh tế.
Luận án dựa trên khung phân loại 5 nhóm yêu cầu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định hiện hành:
| STT |
Yêu cầu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao |
Đặc tính sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao |
| 1 |
Yêu cầu tự nhiên |
Đất, Nước, Khí hậu |
| 2 |
Yêu cầu kinh tế |
Thị trường tiêu thụ, Nguồn vốn đầu tư, Lợi nhuận, Hiệu quả đồng vốn |
| 3 |
Yêu cầu kỹ thuật |
Kỹ thuật áp dụng, Cơ giới hóa, Giống sản xuất, Công nghệ áp dụng, Chất lượng sản phẩm, Cơ sở hạ tầng |
| 4 |
Yêu cầu xã hội |
Nguồn lao động, Trình độ lao động, Chính sách đất đai, Quy mô canh tác, Phù hợp quy hoạch, Tổ chức sản xuất |
| 5 |
Yêu cầu môi trường |
Thân thiện với môi trường |
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm:
- Điều tra phỏng vấn trực tiếp 200 nông dân sản xuất lúa và ngô tại 11 đơn vị hành chính của tỉnh An Giang bằng phiếu khảo sát cấu trúc.
- Tổ chức 11 cuộc đánh giá nhanh nông thôn (RRA) tại các huyện, thị xã, thành phố trong vùng nghiên cứu.
- Tham vấn chuyên gia thông qua phương pháp nhóm người am hiểu (Key Informant Panel - KIP) với sự tham gia của 114 chuyên gia gồm nông dân giàu kinh nghiệm, nhà quản lý và nhà khoa học để đánh giá mức độ quan trọng và xác định trọng số các tiêu chí.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Sử dụng phương pháp đánh giá đa mục tiêu để xác định và chuẩn hóa các chỉ số yêu cầu cho cây lúa và ngô.
- Ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu không gian, số hóa và biên tập các bản đồ đơn tính về điều kiện tự nhiên (độ sâu tầng sinh phèn/tầng phèn, sa cấu đất, ngập lũ, thời gian cần tưới bổ sung mùa khô), các đặc tính kinh tế, xã hội, môi trường năm 2019, từ đó thực hiện chồng lớp bản đồ để thành lập bản đồ phân vùng thích nghi đất đai.
Bốn nội dung nghiên cứu chính được triển khai:
- Nội dung 1: Đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hệ thống hóa cơ sở lý luận xây dựng các tiêu chí cho ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.
- Nội dung 2: Xác định cơ sở và tiêu chí cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Nội dung 3: Thành lập quy trình xây dựng bảng phân cấp yêu cầu cho sản xuất lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao dạng sản xuất đại trà.
- Nội dung 4: Đề xuất các vùng có khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang.
Cây ngô được phân tích các giai đoạn sinh trưởng theo phân loại của Ngô Hữu Tình (2003):
| Giai đoạn sinh dưỡng |
Giai đoạn sinh thực |
| VE (mọc) |
R1 (phun râu) |
| V1 (lá thứ nhất) |
R2 (mẩy hạt) |
| V2 (lá thứ 2) |
R3 (sữa) |
| V3 (lá thứ ba) |
R4 (sáp) |
| ... |
R5 (xuất hiện răng ngựa) |
| Vn (lá thứ n) |
R6 (chín sinh lý) |
| VT (trỗ cờ) |
|
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Nội dung chương trình bày bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao của cả nước và tỉnh An Giang, xác định khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu hụt hệ thống tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai cho cây trồng đại trà ngoài đồng ruộng. Chương làm rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu (cơ sở xây dựng tiêu chí cho lúa và cây ngô), phạm vi nghiên cứu trên 11 đơn vị hành chính tỉnh An Giang, xây dựng giả thuyết khoa học, 4 câu hỏi nghiên cứu và nêu rõ 2 đóng góp mới của đề tài.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Chương phân tích các khái niệm về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng nông nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; rà soát lịch sử hình thành và phát triển mô hình này tại Mỹ, Anh, Phần Lan, Trung Quốc, Đức, Israel, Đài Loan, Úc và thực trạng tại Việt Nam (với 34 khu nông nghiệp công nghệ cao được quy hoạch). Chương hệ thống hóa toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và tỉnh An Giang; trình bày chi tiết đặc tính sinh học, nhu cầu sinh thái của cây lúa và cây ngô; phân tích phương pháp phân hạng thích nghi đất đai theo FAO (1976, 2007); đồng thời nêu bật các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, kỹ thuật canh tác và chính sách đất đai của tỉnh An Giang.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết hệ thống phương pháp và phương tiện kỹ thuật được sử dụng để giải quyết 4 nội dung nghiên cứu. Chương mô tả quy trình chọn mẫu và thu thập số liệu sơ cấp qua 200 phiếu điều tra nông hộ tại 11 huyện/thị/thành phố, 11 cuộc đánh giá nhanh nông thôn, tham vấn 114 chuyên gia (KIP); quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp về bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2019; phương pháp đánh giá đa mục tiêu để xác định trọng số tiêu chí; và quy trình chồng lớp bản đồ chuyên đề trên phần mềm GIS phục vụ phân vùng thích nghi đất đai.
Chương 4: Kết quả thảo luận
Chương 4 là chương trọng tâm trình bày toàn bộ kết quả phân tích và thảo luận của luận án:
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2019, biến động diện tích lúa giai đoạn 2001-2019 và diện tích ngô giai đoạn 2010-2019 tại 11 đơn vị hành chính tỉnh An Giang; chỉ ra các hình thức công nghệ đang được áp dụng (như tưới tiết kiệm, nhà lưới tại Chợ Mới) cùng các hạn chế trong thực tiễn sản xuất.
- Xác định và chuẩn hóa các chỉ số yêu cầu cho cây lúa và ngô dựa trên ý kiến của 114 chuyên gia.
- Xác định được 9 yêu cầu chất lượng chung và thiết lập bộ 21 tiêu chí chẩn đoán đối với lúa, bộ 20 tiêu chí chẩn đoán đối với cây ngô ứng dụng công nghệ cao.
- Xây dựng quy trình 4 bước thành lập bảng phân cấp yêu cầu và bảng phân cấp khả năng phù hợp (Bảng 4.20 cho lúa và Bảng 4.21 cho ngô).
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ đơn tính năm 2019 của tỉnh An Giang: bản đồ độ sâu xuất hiện tầng phèn/tầng sinh phèn, sa cấu đất, ngập lũ, thời gian tưới bổ sung mùa khô, cùng các bản đồ đặc tính kinh tế, xã hội và môi trường.
- Tổng hợp bản đồ phân vùng thích nghi đất đai cho cây lúa và cây ngô: Kết quả cho thấy diện tích thuộc vùng không thích nghi (N) chiếm tỷ lệ cao nhất đối với cả hai loại cây trồng; mức độ thích nghi cao nhất hiện tại ở tỉnh An Giang chỉ đạt mức thích nghi trung bình (S2), chưa có diện tích đạt mức thích nghi cao (S1).
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ các yếu tố hạn chế, nâng cấp khả năng phù hợp cho các vùng canh tác lúa và ngô.
Chương 5: Kết luận và đề xuất (Kết luận và kiến nghị)
Chương tổng kết các kết quả đạt được về mặt lý luận, phương pháp và thực tiễn phân vùng; đồng thời đưa ra các đề xuất cụ thể đối với Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, các sở ban ngành liên quan và nông dân nhằm hoàn thiện hạ tầng, chính sách đất đai, nguồn vốn và liên kết chuỗi giá trị phục vụ phát triển sản xuất lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được các kết quả cụ thể và mang lại hai đóng góp mới chính:
Thứ nhất, về mặt phương pháp luận, luận án đã xây dựng thành công quy trình thiết lập bảng phân cấp yêu cầu cho sản xuất lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao dạng sản xuất đại trà ngoài đồng ruộng, bao gồm 4 bước thực hiện:
- Xác định các yêu cầu sơ bộ.
- Xác định yêu cầu chung và yêu cầu cụ thể.
- Xây dựng yêu cầu chất lượng và các tiêu chí chẩn đoán.
- Xây dựng bảng phân cấp khả năng phù hợp ứng dụng công nghệ cao.
Thứ hai, về mặt dữ liệu và tiêu chí khoa học, từ kết quả tham vấn 114 chuyên gia và khảo sát thực địa, luận án đã xác định được 9 yêu cầu chất lượng và xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng hoàn chỉnh gồm:
- 21 tiêu chí đối với cây lúa ứng dụng công nghệ cao.
- 20 tiêu chí đối với cây ngô ứng dụng công nghệ cao.
Thứ ba, về mặt ứng dụng thực tiễn, luận án đã xây dựng cơ sở dữ liệu GIS và thành lập bản đồ phân vùng khả năng thích nghi đất đai cho lúa và ngô tại 11 đơn vị hành chính tỉnh An Giang. Kết quả đánh giá phân hạng xác định:
- Luận án phân định được 3 vùng khả năng sản xuất (S2, S3, N).
- Diện tích vùng không thích nghi (N) chiếm tỷ lệ lớn nhất trên địa bàn tỉnh đối với cả cây lúa và cây ngô.
- Mức độ phù hợp cao nhất trong điều kiện thực tế năm 2019 của tỉnh An Giang là mức thích nghi trung bình (S2), chưa có vùng đạt mức thích nghi cao (S1) do sự chi phối của các yếu tố hạn chế về thổ nhưỡng (phèn), ngập lũ, chế độ nước tưới, hạ tầng và quy mô đất đai.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng thích nghi và hiệu quả sản xuất bao gồm: hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông - thủy lợi nội đồng, mở rộng thị trường tiêu thụ có truy xuất nguồn gốc, đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, hỗ trợ nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh chính sách tích tụ đất đai mở rộng quy mô canh tác và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và nông hộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu trên địa bàn 11 đơn vị hành chính của tỉnh An Giang và đánh giá chuyên sâu cho hai đối tượng cây trồng cụ thể là cây lúa và cây ngô (đại diện cho nhóm rau màu). Dữ liệu không gian và kinh tế - xã hội được tổng hợp tại mốc thời gian năm 2019. Luận án tập trung vào hình thức sản xuất đại trà theo vùng ngoài đồng ruộng, chưa mở rộng đánh giá đối với các mô hình nông nghiệp công nghệ cao quy mô nhỏ trong môi trường kiểm soát hoàn toàn (như nhà màng, nhà kính kín).
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, quy trình xây dựng bảng phân cấp và phương pháp phân vùng thích nghi đất đai của luận án có thể được mở rộng áp dụng cho các loại cây rau màu khác, cây ăn trái và các đối tượng cây trồng chủ lực tại các tỉnh lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, hệ thống tiêu chí cần tiếp tục được cập nhật theo chu kỳ phát triển công nghệ mới và các biến động về khí hậu, thủy văn trong giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long): Luận án cung cấp cơ sở khoa học, cơ sở dữ liệu GIS và bản đồ phân vùng để phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao, tránh đầu tư dàn trải. Phần quy trình 4 bước và bảng phân cấp yêu cầu là công cụ quản lý cụ thể có thể tham khảo trực tiếp.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý Đất đai, Khoa học Đất, Nông nghiệp và Môi trường: Luận án là tài liệu học thuật giá trị về phương pháp tích hợp quy trình đánh giá đất đai FAO (1976, 2007) với phương pháp đánh giá đa mục tiêu và kỹ thuật GIS trong việc định lượng hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.
- Đối với doanh nghiệp nông nghiệp và hợp tác xã: Luận án cung cấp các thông tin phân tích về điều kiện tự nhiên, hạ tầng, các yếu tố hạn chế của từng tiểu vùng tại An Giang, giúp doanh nghiệp định hướng địa bàn đầu tư, liên kết sản xuất và lựa chọn giải pháp kỹ thuật canh tác phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn cây ngô làm đối tượng đại diện cho nhóm rau màu tại tỉnh An Giang?
Cây ngô được chọn vì đây là cây trồng chủ lực có diện tích canh tác lớn nhất trong nhóm rau màu tại tỉnh An Giang, có tính thích ứng cao với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, cho năng suất cao, đồng thời có lợi thế về kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch và thị trường tiêu thụ nông sản ổn định trong và ngoài nước.
2. Hệ thống tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao cho cây lúa và cây ngô gồm những nội dung gì?
Luận án xác định được 9 yêu cầu chất lượng chung dựa trên tham vấn 114 chuyên gia và xây dựng bộ tiêu chí chẩn đoán gồm 21 tiêu chí đối với cây lúa và 20 tiêu chí đối với cây ngô, bao quát đầy đủ 5 nhóm yếu tố: điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu), kỹ thuật canh tác, kinh tế, xã hội và môi trường.
3. Quy trình xây dựng bảng phân cấp yêu cầu cho sản xuất lúa và ngô gồm những bước nào?
Quy trình gồm 4 bước thực hiện:
- Bước 1: Xác định các yêu cầu sơ bộ.
- Bước 2: Xác định yêu cầu chung và yêu cầu cụ thể.
- Bước 3: Xây dựng yêu cầu chất lượng và các tiêu chí chẩn đoán.
- Bước 4: Xây dựng bảng phân cấp khả năng phù hợp ứng dụng công nghệ cao.
4. Kết quả phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh An Giang cho thấy đặc điểm gì nổi bật?
Kết quả cho thấy diện tích thuộc vùng không thích nghi (N) chiếm tỷ lệ cao nhất đối với cả cây lúa và cây ngô. Mức độ thích nghi cao nhất hiện tại trên địa bàn tỉnh chỉ đạt mức thích nghi trung bình (S2), chưa có vùng nào đạt mức thích nghi cao (S1) do bị giới hạn bởi tầng sinh phèn, tình trạng ngập lũ, yêu cầu tưới bổ sung mùa khô và quy mô sản xuất còn phân tán.
5. Luận án đã sử dụng cỡ mẫu điều tra thực tế như thế nào?
Luận án đã điều tra bảng hỏi đối với 200 nông hộ trực tiếp canh tác lúa và ngô, tiến hành 11 cuộc đánh giá nhanh nông thôn (RRA) tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện, và tổ chức tham vấn chuyên gia (KIP) với 114 đại biểu gồm người dân am hiểu, nhà quản lý và nhà khoa học.
Kết luận
Luận án của tác giả Phan Chí Nguyện đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng thành công quy trình 4 bước thành lập bảng phân cấp yêu cầu cùng bộ tiêu chí đánh giá thích nghi đất đai cho cây lúa (21 tiêu chí) và cây ngô (20 tiêu chí) ứng dụng công nghệ cao dạng sản xuất đại trà. Kết quả ứng dụng công nghệ GIS phân vùng tại 11 đơn vị hành chính tỉnh An Giang năm 2019 đã xác định hiện trạng thích nghi cao nhất đạt mức trung bình (S2) và diện tích không thích nghi (N) còn chiếm tỷ lệ lớn. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hạ tầng, đất đai, vốn, nhân lực và thị trường, đóng góp luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương.