Đặt vấn đề Nông nghiệp công nghệ cao bao gồm nhiều lĩnh vực như: nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất, ứng dụng vật liệu mới, công nghệ thông tin và công nghệ quản lý sản xuất vào các lĩnh vực sản xuất nông sản hàng hóa; xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Lê Tất Khương và Trần Anh Tuấn, 2014); đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao; xúc tiến thương mại công nghệ cao; phát triển dịch vụ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, kể cả dịch vụ du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí trong các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và trong các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Luật công nghệ cao, 2008). Tuy vậy, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hiểu một cách đơn giản hơn là việc ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến mới vào quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả, an toàn thực phẩm, có khả năng cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường (Chính phủ, 2015; Dương Hoa Xô và Phạm Hữu Nhượng, 2006). Đây là xu hướng tất yếu nhằm tạo bước đột phá để nâng cao sức cạnh tranh của nền sản xuất nông nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế và là bước đi quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trên thế giới việc ứng dụng công nghệ cao vào trong quá trình sản xuất nông nghiệp đã được nhân rộng ở các nước như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Israel, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc đã mang lại hiệu quả kinh tế cao (Phạm Văn Hiển, 2014).
Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất nông nghiệp chỉ mới xuất hiện chủ yếu tại Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Lạt, Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu mang lại hiệu quả về kinh tế cao và tạo ra môi trường thân thiện. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là nhu cầu cần thiết để phát triển kinh tế, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân. Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp vừa là đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn sản xuất, vừa là một trong các giải pháp quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Phạm Văn Hiển, 2014). Trong những năm qua, An Giang đã thực hiện chủ trương ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất nông nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế và ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả các công nghệ mới, công 1 nghệ tiên tiến trong và ngoài nước như quy hoạch vùng sản phẩm, lựa chọn công nghệ, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Sản xuất hàng hóa phải đáp ứng với nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường có truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh (UBND tỉnh An Giang, 2017). Đảm bảo an ninh lương thực, hàng hóa xuất khẩu, tiêu dùng, bảo vệ tốt môi trường với mục tiêu cuối cùng là góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong sản xuất nông nghiệp như thế, nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc thực hiện ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp như về quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẽ, manh mún, thiếu quy hoạch, chưa hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn (Đỗ Kim Chung, 2018; Nguyễn Tiến Dũng & Lê Khương Ninh, 2015); việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, chưa mạnh dạng áp dụng các tiến bộ trong lựa chọn giống cây trồng vật nuôi, ứng dụng công nghệ sinh học nên năng suất cây trồng thấp, chất lượng sản phẩm không cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm khá nhiều (Lê Tất Khương và Trần Anh Tuấn, 2014; Phạm Văn Hiển, 2014) và đặc biệt là tiêu chí làm cơ sở xây dựng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn chưa được hoàn thiện. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu (Nghiên cứu cụ thể trong điều kiện tỉnh An Giang)” là rất cần thiết được nghiên cứu, thực hiện trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh An Giang.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu xác định các cơ sở về điều kiện tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế - xã hội, môi trường và chính sách đất đai nhằm phục vụ việc xây dựng các tiêu chí cho sản xuất lúa và rau màu ứng dụng công nghệ cao của tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định và đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu (ngô) tỉnh An Giang.
- Xác định các điều kiện về tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế - xã hội, môi trường và chính sách đất đai để bước đầu xây dựng các tiêu chí sản xuất lúa và rau màu (ngô) ứng dụng công nghệ cao; 2 - Xây dựng quy trình thực hiện phân cấp tiêu chí phù hợp cho đánh giá phân vùng khả năng thích nghi đất đai cho phát triển Lúa và Ngô ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh An Giang. - Ứng dụng phân vùng khả năng phát triển cho sản xuất lúa và rau màu ứng dụng công nghệ cao và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất lúa và ngô tại tỉnh An Giang.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi nghiên cứu An Giang là tỉnh có tiềm năng phát triển nông nghiệp, là một tỉnh sản xuất lúa đứng đầu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với đó là diện tích rau màu lớn, những vùng tập trung phát triển rau màu và có khả năng xuất khẩu. Đồng thời tỉnh An Giang cũng có chủ trương và chính sách cho phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chọn những vùng sản xuất có điều kiện phù hợp và cây trồng chủ lực nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Trên cơ sở đó nghiên cứu đã chọn tỉnh An Giang làm điểm nghiên cứu cụ thể, từ đó có thể triển khai sang các tỉnh lân cận ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu thực hiện trên 11 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh An Giang: huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Chợ Mới, Châu Phú, Phú Tân, Châu Thành, TX. Tân Châu, TP. Châu Đốc và Long Xuyên.2 Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở để xây dựng các tiêu chí ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp cho lúa và rau màu của tỉnh An Giang. Trong nghiên cứu này đối tượng rau màu được chọn để đánh giá là cây ngô, đây là loại cây trồng chủ lực của địa phương, chiếm diện tích lớn trong diện tích rau màu của tỉnh.
Đồng thời cây ngô tại tỉnh An Giang có khả năng phù hợp với thổ nhưỡng và có năng suất cao. Ngoài ra, để phát triển ứng dụng công nghệ cao thì cây ngô có điều kiện thuận lợi trong quá trình bảo quản sản phẩm và cung ứng cho thị trường trong và ngoài nước. - Nghiên cứu thực hiện với loại hình sản xuất theo vùng, cách thức sản xuất ngoài đồng ruộng, sản xuất dạng đại trà nhằm khai thác và sử dụng tài nguyên đất đai hiệu quả. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học - Xác định, nghiên cứu các cơ sở cho xây dựng tiêu chí ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả về năng suất và 3 chất lượng sản phẩm, thân thiện với môi trường, tạo điều kiện ổn định về thị trường tiêu thụ, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân của tỉnh An Giang.
- Xây dựng bảng phân cấp và các tiêu chí sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để đánh giá khả năng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh An Giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung phù hợp với thực tiễn. - Góp phần phục vụ cho các công trình nghiên cứu khoa học, trong giáo dục cũng như góp phần xây dựng các điều kiện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của toàn vùng ĐBSCL. Giả thuyết nghiên cứu Để có cơ sở xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh An Giang thì cần có những tiêu chí, yêu cầu nào để giúp nhà quản lý định hướng và đề xuất giải pháp nào giúp phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao mang tính đại trà mang tính hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để có sản phẩm có chất lượng tốt, giá trị tăng cao, đồng nhất, thân thiện với môi trường, đảm bảo được sản lượng nông sản nhằm ổn định thị trường, giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận.
Câu hỏi nghiên cứu - Để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao dạng sản xuất vùng thì cần những yêu cầu nào? Từ những yêu cầu trên thì những tiêu chí nào được chọn cho phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. - Trong điều kiện cụ thể của tỉnh An Giang để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì cần những tiêu chí sản xuất nào cho phát triển lúa và rau màu? - Vùng nào có khả năng phát triển sản xuất lúa và rau màu (ngô) ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh An Giang? - Những vấn đề gì cần giải quyết để nâng cao khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho nông nghiệp ở tỉnh An Giang. Đóng góp mới của nghiên cứu (1) Nghiên cứu đã tổng hợp và xây dựng được các tiêu chí cho phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho cây lúa và ngô trên địa bàn tỉnh An Giang; Từ kết quả tổng hợp và xây dựng các tiêu chí trên đã ứng dụng để phân vùng khả năng phát triển lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao cho tỉnh. 4 (2) Nghiên cứu đã xây dựng được quy trình thực hiện bảng phân cấp khả năng phù hợp cho việc xác định vùng có khả năng phát triển sản xuất lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao.
5 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nông nghiệp công nghệ cao 2.