MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã thu đƣợc nhiều kết quả, trong đó sản xuất vụ đông đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao tổng sản lƣợng lƣơng thực và sản lƣợng các loại cây trồng trong năm. Đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, cùng với các chính sách hỗ trợ cho hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ công tác tƣới tiêu đƣợc đầu tƣ đã tạo điều kiện cho vụ đông trở thành một vụ sản xuất phù hợp với nhiều loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao tổng giá trị sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp.
Vụ đông trong những năm gần đây, tùy theo trình độ kỹ thuật mức độ thâm canh, tập quán canh tác và nhu cầu thực tiễn về sản xuất và đời sống mà mỗi địa phƣơng có những cây trồng vụ đông khác nhau nhƣ: ngô, khoai lang, đậu đỗ, khoai tây, rau các loại. Mỗi cây trồng đều có những đặc điểm riêng và có những yêu cầu nhất định với ngoại cảnh và thỏa mãn một nội dung kinh tế nhất định là làm tăng sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm cho xã hội và tăng thu nhập cho ngƣời sản xuất nông nghiệp. Vấn đề là ở chỗ lựa chọn cây trồng nào kinh tế hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phƣơng, của cơ sở sản xuất. Cây khoai tây (Solanum Tuberosum.
L) vừa là cây lƣơng thực, đồng thời là cây thực phẩm có giá trị đƣợc trồng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Khoai tây (solanum tuberosum L.) là cây họ cà (Solanaceae), chi Solanum, vừa là cây lƣơng thực, cây thực phẩm và thức ăn gia súc có giá trị dinh dƣỡng cao, vừa là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Do có khả năng thích hợp với nhiều vùng sinh thái, cho năng suất cao, củ giàu dinh dƣỡng nên khoai tây đƣợc trồng rất phổ biến. Tính đến năm 2010, 18,6 triệu ha đất trên thế giới đƣợc dùng để trồng khoai tây.
Sản lƣợng 2 trung bình là 17,4 tấn/ha. Khoai tây là cây lƣơng thực, thực phẩm ngắn ngày, có giá trị dinh dƣỡng cao nhƣ khoai tây với lớp vỏ còn nguyên là nguồn cung cấp kali tuyệt vời, rất tốt cho tim mạch. Chỉ một củ khoai có thể cung cấp khoảng 18% lƣợng kali mỗi ngày. Vitamin C: Vitamin này trong khoai tây cực kỳ cao, nó là chất chống oxy hóa hiệu nghiệm giúp ổn định các phân tử tự do, có thể giảm sự tổn thƣơng của tế bào.
Vitamin C sản xuất collagen giúp kết nối các mô xƣơng với nhau. Chất xơ: Một củ khoai tây trung bình (148g) nguyên vỏ có chứa 2g chất xơ hoặc 8% nhu cầu đƣợc khuyến nghị hàng ngày. Tiêu thụ chất xơ và nƣớc vừa đủ có thể làm tăng cảm giác no giữa các bữa ăn. Chất chống ô xy hóa: Khoai tây chứa glutathione nhiều nhất so với các loại rau củ khác - là chất chống oxy hóa có thể giúp chống lại một vài bệnh ung thƣ.
Trong một nghiên cứu so sánh tổng quát tác động chống oxy hóa của khoai tây, ớt chuông, cà rốt, hành tây và bông cải xanh, khoai tây chỉ đúng thứ hai sau bông cải xanh. Carbonhydrate: Thức ăn chứa carbonhydrate phức hợp là nguồn năng lƣợng chính cho cơ thể, có khả năng trồng trọt ở nhiều vùng tại Việt Nam 14. Trong những năm gần đây khoai tây đã đƣợc đƣa vào trồng khá phổ biến tại các vùng trung du và miền núi phía Bắc nhằm tận dụng ƣu thế về đất đai, khí hậu, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho bà con nông dân, đa dạng hóa cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực tại chỗ cho miền núi. Tuy nhiên việc phát triển diện tích trồng khoai tây ở miền núi nói chung còn nhiều hạn chế về giống, kỹ thuật trồng trọt… Chính vì vậy mà trong những năm qua việc phát triển sản xuất khoai tây còn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng sẵn có, năng suất và sản lƣợng còn thấp.
Sơn La là một tỉnh miền núi, kinh tế nông nghiệp vẫn là lúa, ngô, màu và cây ăn quả. Trong những năm qua, diện tích trồng cây lƣơng thực nói 3 chung và cây khoai tây nói riêng ngày càng đƣợc mở rộng. Phát triển cây khoai tây trên vùng đất này có nhiều lợi thế bởi vì: Khoai tây là cây lƣơng thực có thời gian sinh trƣởng ngắn dao động từ 80 – 90 ngày, năng suất trung bình hơn 16 tấn/ha, đã có nhiều điển hình đạt năng suất 25 – 30 tấn/ha. Khoai tây là loại cây lƣơng thực dễ trồng, sinh trƣởng và phát triển tốt, dễ chăm sóc và ít bị sâu bệnh.
Sản phẩm thu hoạch dễ tiêu thụ và dễ thƣơng mại hóa. Mặt khác rất phù hợp với công thức luân canh truyền thống với 2 vụ lúa xuân và vụ lúa mùa. Cây khoai tây nếu đƣợc đầu tƣ thâm canh sẽ mang lại lƣợng hàng hóa lớn, có giá trị xuất khẩu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai khá thích hợp cho sự phát triển cây khoai tây trong vụ đông.
Đã có nhiều chƣơng trình hội thảo cũng nhƣ có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về mô hình trồng khoai tây vụ đông, tuy nhiên để có nghiên cứu một cách liên tục trên cả khía cạnh hiệu quả và năng suất nhằm làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu mô hình trồng khoai tây cho vụ đông là vô cùng quan trọng, đặc biệt là việc trồng khoai tây những năm gần đây. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, đƣợc sự đồng ý của Khoa Kinh tế và Phát triền nông thôn trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hƣớng dẫn trực tiếp của cô giáo Th.s Trần Thị Ngọc em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây khoai tây vụ đông năm 2014 trên địa bàn xã Quang Huy - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả mô hình trồng cây khoai tây trong vụ đông năm 2014 tại xã Quang Huy - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La. Mục tiêu nghiên cứu.
- Đánh giá đƣợc thực trạng, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trƣờng của mô hình trồng cây khoai tây trong vụ đông năm 2014 trên địa bàn xã Quang Huy - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La. - Xác định đƣợc những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả của mô hình trồng cây khoai tây trong vụ đông trên địa bàn xã Quang Huy - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La. - Đề xuất đƣợc một số định hƣớng và giải pháp nhằm phát triển cây khoai tây và nhân rộng mô hình trên địa bàn xã. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau khi ra trƣờng.
- Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học có liên quan. - Đây là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý trong lĩnh vực khuyến nông tại địa phƣơng. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Vụ đông đang dần trở thành vụ sản xuất chính của các địa phƣơng, mang lại hiệu quả đáng kể, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống ngƣời dân ở vùng nông thôn.
Những năm gần đây, do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKHTC) trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp nƣớc ta. Đó là rét đậm, rét hại, khô hạn kéo dài, mƣa lũ xảy ra thƣờng xuyên và có chiều hƣớng gia tăng, tính đột biến ngày càng rõ rệt. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh Sơn La cũng chịu chung sự ảnh hƣởng đó, cây lúa thƣờng bị kéo dài thời gian sinh trƣởng, thu hoạch chậm hơn khoảng 10 - 15 ngày. Gieo trồng cây vụ đông ƣa ấm nhƣ ngô, đậu tƣơng nếu trồng sau ngày 30/9 khi ra hoa, kết quả gặp rét sẽ ảnh hƣởng lớn đến năng suất thậm chí không cho thu hoạch.
Để giải quyết vấn đề trên, trong những năm qua ngành nông nghiệp của tỉnh đã đƣa ra nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm ứng phó với BĐKHTC nhƣ bố trí cơ cấu giống cây trồng phù hợp, đầu tƣ cơ sở hạ tầng phục vụ tới tiêu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhƣ gieo thẳng bằng giàn sạ kéo tay, thâm canh lúa cải tiến SRI; cơ giới hoá khâu làm đất, thu hoạch. Nhằm đẩy nhanh tiến độ, chạy đua với thời vụ để tránh những điều kiện bất thuận. Đồng thời đảm bảo thời gian sản xuất vụ đông với diện tích và sản lƣợng cao nhất. Những năm gần đây, khi chủ trƣơng đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, tăng hệ số quay vòng đất đƣợc triển khai, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã đƣợc quan tâm, nhiều phƣơng pháp canh tác mới đƣợc triển khai thực hiện, các giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lƣợng cao đƣợc đƣa vào sản xuất, từng bƣớc thay đổi đƣợc tập quán canh tác lỗi cũ của nông dân, nâng cao hiệu quả sản xuất trên một diện tích đất, đã góp phần tích 6 cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đặc biệt khoai tây là một cây trồng có giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế cao đã và đang đƣợc nhà nƣớc chú trọng trong việc phát triển và nhân rộng. Cơ sở thực tiễn của đề tài Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc nƣớc ta với diện tích đất tự nhiên hơn 32.493 km2 và dân số trên 1 triệu ngƣời. Sơn La là tỉnh rất chú trọng vào việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp nâng cao năng suất, sản lƣợng lƣơng thực thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Những năm trở lại cây khoai tây đã đƣợc quan tâm và đầu tƣ phát triển, ngƣời dân từng bƣớc đã đƣa khoai tây làm cây trồng vụ đông trong cơ cấu sản xuất 3 vụ song năng suất và phẩm chất khoai tây còn thấp.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng năng suất thấp và chất lƣợng khoai tây kém, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do thiếu phân bổ giống và nguồn giống chất lƣợng kết hợp với kỹ thuật canh tác chƣa phù hợp của ngƣời dân trồng khoai tây. Vì vậy để mở rộng diện tích khoai tây thì vấn đề cấp thiết là phải là phải có giống cho năng suất cao và ổn định. Giống tốt là tiền đề để đạt năng suất cao, phẩm chất tốt song không phải ở bất kỳ điều kiện sinh thái nào giống cũng phát huy hết tiềm năng năng suất của nó.