MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi là ngành quan trọng hàng đầu. Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp, song nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn như gặp nhiều rủi ro, bất lợi do thời tiết, thị trường, thể chế chính sách, đặc biệt là vấn đề VSATTP đang trở thành rào cản lớn đối với nông sản Việt Nam khi muốn tìm chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế trước sự cạnh tranh gay gắt của các nền nông nghiệp lớn trên thế giới. Những bất lợi này tác động rất lớn tới người nông dân.
Xét một cách toàn diện người nông dân luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi và luôn gặp khó khăn trong cuộc sống. Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa vì thế nên Việt Nam có khả năng sản xuất rau quanh năm với số lượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng 60-80 loại rau trong vụ đông xuân, 20-30 loại rau trong vụ hè thu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, theo nhận xét của các chuyên gia, mặc dù Việt Nam có sản lượng rau quả khá lớn, nhưng xuất khẩu rau quả vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Sở dĩ như vậy là do chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) chưa được quan tâm đúng mức.
VSATTP đang trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới bởi nó không chỉ liên quan đến sức khỏe của người tiêu dùng mà còn liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là đối với những nước đang phát triển và mới bước vào hội nhập. Trong những năm qua, đối với sản phẩm trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả tươi; chè búp tươi, lúa và cà phê. Việc ban hành quy trình này không chỉ 2 nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm mà còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân lấy hoạt động trồng trọt làm ngành nghề chính. Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, rau cung cấp nhiều Vitamin, chất khoáng, chất xơ và rau có tính dược lý cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được.
Khi đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm rau đảm bảo VSATTP và có chất lượng ngày càng cao, vì vậy việc phát triển ngành trồng rau theo quy trình VietGAP ngày càng được mở rộng. Xã Tiền An (Quảng Yên) có tổng diện tích trên 1.000ha đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp trên 600ha; lao động nông nghiệp chiếm trên 64%. Đây là điều kiện thuận lợi để Tiền An phát triển sản xuất nông nghiệp. Vì thế, Tiền An đã xác định hình thành vùng sản xuất rau an toàn là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế của địa phương.
Liệu định hướng của chính quyền xã khi đưa Tiền An trở thành vùng sản xuất rau an toàn có phải là hướng đi đúng đắn để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân trong xã hay không khi còn gặp nhiều khó khăn trong trồng và tiêu thụ hiện nay? Để giải quyết câu hỏi trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế rau an toàn VietGAP tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. - Phân tích một số chỉ tiêu kinh tế trong sản xuất rau an toàn tại xã Tiền An. 3 - Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại xã Tiền An.
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển sản xuất rau an toàn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người trồng rau. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kiến thức của bản thân, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Biết phương pháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học trong thực tiễn.
-Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong qúa trình nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà lãnh đạo địa phương có căn cứ xây dựng các chính sách mới về phát triển rau an toàn và mở rộng sản xuất tại địa phương. - Là cơ sở để người dân tham khảo trước khi ra quyết định phát triển, mở rộng sản xuất. 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Khái niệm đánh giá Đánh giá là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. Đánh giá để khẳng định những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của gia đình, thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. Trong đánh giá quá trình sản xuất người ta có thể hiểu như sau: - Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: + Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không? + Mức độ đạt được so với mục tiêu thông qua các hoạt động đã chỉ ra. - Đánh giá sử dụng các phương pháp để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của hoạt động sản xuất.
Đồng thời phân tích những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện sản xuất nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời. - Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có khoa học, lấy mẫu theo phương pháp thống kê. - Việc đánh giá sẽ tiến hành đo đếm định kỳ theo giai đoạn. - Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
Các loại đánh giá Đánh giá có nhiều loại khác nhau. Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 2 loại chính như sau: Đánh giá tiền khả thi/ khả thi 5 Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay sản xuất, để xem xét liệu hoạt động hay sản xuất có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem hoạt động sản xuất có được đưa vào thực hiện hay không? Đánh giá thực hiện - Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định.
Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho dài hạn. Tùy theo hoạt động sản xuất mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là ba tháng, sáu tháng hay một năm một lần. Mục đích của đánh giá định kỳ là tìm ra những điểm mạnh, yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo. - Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc hoạt động.
Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của sản xuất. Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện. Những thế mạnh, điểm yếu, những thành công và hạn chế, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho sản xuất hay hoạt động khác phù hợp hơn. - Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung hay nói cách khác là xét xem hoạt động có đúng thời gian dự định hay không, nhanh hay chậm thế nào….
6 - Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: Là xem xét lại việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng theo nguyên tắc đã được quy định hay không để có điều chỉnh và rút kinh nghiệm. - Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về việc tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia, xem xét và phân tích công tác tổ chức, cách phối hợp các thành phần tham gia. Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các mô hình hay hoạt động trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó. - Đánh giá kỹ thuật: Là xem xét lại các kỹ thuật mà sản xuất đã đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường. - Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả sản xuất có thể áp dụng rộng rãi, đại trà hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không. Hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm hiệu quả kinh tế HQ là phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
HQ là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động. HQ được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau: HQ tổng hợp, HQKT, HQ chính trị xã hội, HQ trực tiếp, HQ gián tiếp, HQ tương đối và hiệu quả tuyệt đối… Ngày nay, khi đánh giá hiệu quả đầu tư các dự án phát triển, nhất là những dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, đòi hỏi phải xem xét HQKT trên nhiều phương diện.TS Ngô Đình Giao: “HQKT là tiêu chuẩn cao nhất cho mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước” [4].