Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Các giải pháp và định hƣớng. e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Những vấn đề chung về mô hình 2. Khái niệm về mô hình Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, ngƣời ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phƣơng pháp nghiên cứu để tiếp cận.
Mỗi công cụ và phƣơng pháp nghiên cứu đều có những ƣu điểm riêng đƣợc sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong những phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng. Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhƣng thu nhỏ lại.
Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu. Khi mô hình hóa đối tƣợng nghiên cứu thì mô hình sẽ đƣợc trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết đƣợc đối tƣợng nghiên cứu [7]. Mô hình còn đƣợc coi là hình ảnh quy ƣớc của đối tƣợng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế. Nhƣ vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhƣng khi sử dụng mô hình ngƣời ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tƣợng nghiên cứu [4].
e 6 Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tƣợng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tƣởng nào đó, ngƣời ta thƣờng thể hiện dƣới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trƣng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau. Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tƣởng của ngƣời nghiên cứu mà mô hình đƣợc sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tƣợng nghiên cứu, ngƣời ta thƣờng có chung một quan điểm và đều đƣợc thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu.
Vai trò của mô hình Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phƣơng pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống nhƣ một tổng thể. Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ƣu hóa hệ thống nhờ các mô hình ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của các số liệu quan sát đƣợc và các giả định rút ra. Nó giúp ta hiểu sâu hơn hệ thống phức tạp và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lý hệ thống, giúp ta chọn phƣơng pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống [8]. Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng ngƣời nông dân có thể đánh giá đƣợc sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại một khu vực nào đó.
Từ đó đƣa ra đƣợc quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đã có. + Mô hình sản xuất: Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con ngƣời nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã e 7 chứng minh sự phát triển của công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu đƣợc cấu thành trong nền sản xuất. Từ những công cụ thô sơ, công cụ thƣờng thay thế vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công dụng đa năng đã thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm hao phí về lao động sống trên một đơn vị sản phẩm.
Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại. Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện đƣợc sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt đƣợc mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế. Những khái niệm liên quan đến chè an toàn 2. Khái niệm về chè an toàn - VietGap (vietnamese good agricultural pactices ) nghĩa là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tƣơi của Việt Nam.
Những quy tắc những trình tự, thủ tục hƣớng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch và sơ chế đảm bảo an toàn. Để nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe ngƣời sản xuất, ngƣời tiêu dùng, bảo vệ môi trƣờng và truy nguồn gốc sản phẩm - Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tƣơi an toàn tại Việt Nam (gọi tắt là VietGap -Vietnamese Good Agricultural practices) là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hƣớng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch và sơ chế đảm bảo an toàn. Để nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xà hội, sức khỏe ngƣời sản xuất, ngƣời tiêu dùng, bảo vệ môi trƣờng và truy nguồn gốc sản phẩm. - Vậy chè an toàn là sản phẩm chè búp tƣơi đƣợc sản xuất phù hợp với các quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có trong VietGap e 8 (quy trình sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tƣơi an toàn tại việt nam ) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tƣơng đƣơng VietGap, đƣợc chế biến theo quy trình chế biến chè an toàn do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm quy định tại phụ luc 3 ( quy định quản lý sản xuất kinh doanh rau quả chè an toàn ) do BNN & PTNN ban hành.
- Hay Chè an toàn là sản phẩm chè đƣợc sản xuất, chế biến, bảo quản theo đúng quy trình kỹ thuật, có tồn dƣ thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nitrat, chất điều hoà sinh trƣởng và các vi sinh vật có hại dƣới mức giới hạn cho phép theo quy định tại Phụ lục 4 và 5 của Quy định Số 43/2007/QĐ-BNN, ngày 16 tháng 5 năm 2007 ban hành quy định quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn của Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệ và Phát Triển Nông Thôn. Vai trò của chè an toàn Sản phẩm chè đã và đang là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều quốc gia sử dụng chè sau chế biến nhƣ là một nhu cầu thiết yếu. Điều đó đã đƣợc khẳng định ở thị trƣờng tiêu thụ chè đen ở Liên Xô trƣớc đây cũng nhƣ là các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Irac, Ấn Độ… hiện nay. Trong quá trình phát triển, cây chè đã tự khẳng định đƣợc vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Sản phẩm chè không chỉ là nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn. Sản xuất tiêu thụ chè góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động việc làm, tạo thu nhập ổn định cho ngƣời nông dân, khai thác hiệu quả sức lao động hộ nông dân. Phát triển sản xuất chè ở trung du và miền núi góp phần bảo vệ môi trƣờng sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tăng độ phì, góp phần bảo vệ phát triển một nền nông nghiệp bền vững [2]. e 9 Sản xuất, tiêu thụ chè mang lại thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác.
Phát triển sản xuất, tiêu thụ chè tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập. Việc xuất khẩu chè dƣới dạng chè thành phẩm nhƣ chè đen, chè vàng, chè xanh chất lƣợng cao cho phép các quốc gia sản xuất, tiêu thụ chè có điều kiện trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác. Điều kiện sản xuất chè an toàn (Theo quyết định Số 43/2007/QĐ-BNN, ngày 16 tháng 5 năm 2007 ban hành quy định quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn của Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệ và Phát Triển Nông Thôn) a. Quản lý và nhân lực - Tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến chè an toàn phải có hoặc thuê cán bộ kỹ thuật chuyên ngành trồng trọt (hoặc bảo vệ thực vật), chế biến hƣớng dẫn.
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến chè an toàn phải có hồ sơ hoặc sổ tay ghi chép toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến (theo mẫu quy định), nhằm theo dõi, quản lý làm cơ sở cho việc xem xét chứng nhận điều kiện sản xuất, chế biến chè an toàn và chứng nhận sản phẩm chè an toàn. * Đất trồng - Đất quy hoạch trồng chè an toàn phải đảm bảo có đặc điểm lý, hoá, sinh học phù hợp với sự sinh trƣởng, phát triển của cây chè, không bị ô nhiễm hóa chất và kim loại nặng, đáp ứng yêu cầu theo tiêu chuẩn môi trƣờng đất trồng trọt (Tiêu chuẩn TCVN 5941:1995, TCVN 7209: 2000 nêu tại Phụ lục 1 của Quy định này). + Đất trồng chè phải đƣợc quản lý và sử dụng theo hƣớng ngăn ngừa mọi khả năng ô nhiễm và độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng. Theo đó, cần chú trọng canh tác nhƣ sau: e 10 Hàm lƣợng chất hữu cơ trong đất là yếu tố quan trọng duy trì độ phì nhiêu và kết cấu của đất.
Đảm bảo đủ lƣợng hữu cơ trong đất sẽ ngăn chặn xói mòn, làm cho đất luôn tơi xốp, chất dinh dƣỡng ngày càng tăng, trên cơ sở đó cây chè sử dụng nƣớc có hiệu quả, vì thế hạn chế đối với chè hầu nhƣ không xảy ra. Đất chè nên đƣợc duy trì hàm lƣợng mùn tổng số 2,0% trở lên.