Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Và Thị Trường Tiêu Thụ Nhãn Tại Bến Tre

Khóa luận đánh giá hiệu quả kinh tế và thị trường tiêu thụ nhãn tiêu Huế, nhãn xuồng cơm vàng tại xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, Bến Tre.

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2005

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục đích của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình phát triển kinh tế ở xã

2.2. Giới thiệu chung về cây nhãn và Lợi ích của việc trồng nhãn

2.3. Nguồn gốc cây nhãn và các nước trồng nhãn nhiều nhất trên thế giới

2.4. Tình hình sản xuất nhãn tại Việt Nam

2.5. Các chỉ tiêu để tính hiệu quả kinh tế

2.5.1. Chỉ tiêu kết quả

2.5.2. Chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế

2.5.3. Các chỉ tiêu để đánh giá dự án

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Phương pháp điều tra

2.6.2. Phương pháp xử lý số liệu

2.7. Thị trường tiêu thụ

3. CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Điều kiện khí hậu - thời tiết

3.1.3. Thổ nhưỡng và tài nguyên

3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

3.2.1. Tình hình kinh tế

3.2.1.1. Sản xuất nông nghiệp
3.2.1.2. Tiểu thủ công nghiệp

3.2.2. Tình hình văn hóa xã hội

3.2.2.1. Xây dựng đời sống văn hóa
3.2.2.2. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng
3.2.2.3. Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình
3.2.2.4. Công tác xóa đói giảm nghèo
3.2.2.5. Chính sách đền ơn đáp nghĩa
3.2.2.6. Tín ngưỡng tôn giáo
3.2.2.7. Thực hiện quy chế dân chủ

3.2.3. Cơ sở hạ tầng thiết chế văn hóa

3.2.3.1. Đường điện, điện thoại
3.2.3.2. Trường học
3.2.3.3. Trụ sở Ủy Ban Nhân Dân xã
3.2.3.4. Nước sinh hoạt

3.2.4. Tình hình sử dụng đất đai ở xã

3.2.4.1. Đánh giá chung

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thông tin chung về nông hộ qua mẫu điều tra

4.1.1. Tình hình thu nhập của các hộ điều tra

4.1.2. Tình hình đất canh tác của các hộ điều tra

4.1.3. Giới tính, trình độ học vấn và tuổi của chủ hộ

4.1.4. Quy mô nhân khẩu và lao động của những hộ điều tra

4.2. Đặc điểm của các giống nhãn

4.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của nhãn tiêu huế

4.3.1. Phân bổ chi phí máy móc thiết bị cho 1 ha nhãn tiêu huế TKKTCB

4.3.2. Phân tích chi phí 1 ha nhãn tiêu huế TKKTCB

4.3.3. Phân tích chi phí 1 ha nhãn tiêu huế TKKD năm 2004

4.3.4. Kết quả — Hiệu quả 1 ha nhãn tiêu huế TKKD

4.3.5. Phân tích độ nhạy của nhãn tiêu huế theo giá bán

4.3.6. Ngân lưu cho 1 ha nhãn tiêu huế

4.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của nhãn xuồng cơm vàng ghép

4.4.1. Phân bổ chi phí máy móc thiết bị cho 1 ha nhãn XCV ghép TKKTCB

4.4.2. Phân tích chi phí 1 ha nhãn xuồng cơm vàng ghép TKKTCB

4.4.3. Phân tích chi phí 1 ha nhãn xuồng cơm vàng ghép TKKD năm 2004

4.4.4. Kết quả — Hiệu quả 1 ha nhãn xuồng cơm vàng ghép TKKD

4.4.5. Phân tích độ nhạy của nhãn xuồng cơm vàng ghép theo giá bán

4.4.6. Ngân lưu cho 1 ha nhãn xuồng cơm vàng ghép

4.5. Tình hình tiêu thụ của nhãn

4.5.1. Thị trường

4.5.2. Sơ đồ hệ thống kênh phân phối

4.5.2.1. Sự chênh lệch giá bán giữa các kênh tiêu thụ
4.5.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả
4.5.2.3. Tình hình biến động giá cả
4.5.2.4. Hệ thống kênh phân phối
4.5.2.4.1. Các thành viên trong kênh phân phối
4.5.2.4.2. Các kênh phân phối chính

4.5.3. Hiệu quả kinh tế của các thành viên trong kênh phân phối

4.5.3.1. Đối với nhãn tiêu huế
4.5.3.2. Đối với nhãn xuồng cơm vàng

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn Tiêu Huế Và Nhãn Xuồng Cơm Vàng

Nhãn tiêu Huế và nhãn xuồng cơm vàng là hai loại trái cây đặc sản nổi tiếng tại Bến Tre. Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của hai loại nhãn này không chỉ giúp nhà vườn nâng cao thu nhập mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nhãn, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.

1.1. Đặc Điểm Của Nhãn Tiêu Huế Và Nhãn Xuồng Cơm Vàng

Nhãn tiêu Huế có hương vị đặc trưng và chất lượng cao, trong khi nhãn xuồng cơm vàng lại nổi bật với năng suất cao và khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu Bến Tre. Cả hai loại nhãn đều có giá trị kinh tế cao, nhưng cần được khai thác và tiêu thụ hiệu quả.

1.2. Tình Hình Sản Xuất Nhãn Tại Bến Tre

Bến Tre hiện có diện tích trồng nhãn lớn, với nhiều nhà vườn chuyển đổi từ các loại cây khác sang trồng nhãn. Tuy nhiên, việc sản xuất vẫn gặp nhiều thách thức như giá cả không ổn định và thị trường tiêu thụ hạn chế.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Việc Tiêu Thụ Nhãn Tại Bến Tre

Mặc dù nhãn tiêu Huế và nhãn xuồng cơm vàng có tiềm năng kinh tế lớn, nhưng việc tiêu thụ vẫn gặp nhiều khó khăn. Giá cả biến động theo mùa vụ, cùng với sự cạnh tranh từ các loại trái cây khác, đã tạo ra áp lực cho nhà vườn.

2.1. Giá Cả Biến Động Và Ảnh Hưởng Đến Nhà Vườn

Giá nhãn thường cao vào mùa nghịch nhưng lại giảm mạnh vào mùa thuận. Điều này khiến nhà vườn gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.

2.2. Thị Trường Tiêu Thụ Nhãn Còn Hạn Chế

Thị trường tiêu thụ nhãn hiện tại chủ yếu tập trung vào các thương lái và chợ địa phương. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ ra ngoài tỉnh Bến Tre là một thách thức lớn.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn

Để đánh giá hiệu quả kinh tế của nhãn tiêu Huế và nhãn xuồng cơm vàng, các chỉ tiêu như NPV, IRR và tỷ suất lợi nhuận sẽ được áp dụng. Những phương pháp này giúp xác định rõ ràng khả năng sinh lợi của từng loại nhãn.

3.1. Các Chỉ Tiêu Kinh Tế Cần Đánh Giá

Các chỉ tiêu như NPV (Giá trị hiện tại ròng) và IRR (Tỷ suất hoàn vốn nội bộ) sẽ được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của nhãn. Những chỉ tiêu này giúp nhà vườn có cái nhìn tổng quan về lợi nhuận.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Dữ liệu sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn nhà vườn và thương lái, từ đó phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn tại địa phương.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn tiêu Huế và nhãn xuồng cơm vàng đều mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà vườn. Tuy nhiên, cần có những biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất và tiêu thụ.

4.1. Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn Tiêu Huế

Nhãn tiêu Huế cho thấy khả năng sinh lợi cao với chi phí đầu tư hợp lý. Tuy nhiên, việc tiêu thụ vẫn cần được cải thiện để đảm bảo lợi nhuận ổn định cho nhà vườn.

4.2. Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn Xuồng Cơm Vàng

Nhãn xuồng cơm vàng có năng suất cao và chi phí sản xuất thấp, nhưng giá cả lại phụ thuộc vào thị trường. Cần có chiến lược tiêu thụ hiệu quả hơn để tối ưu hóa lợi nhuận.

V. Kết Luận Và Kiến Nghị Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy nhãn tiêu Huế và nhãn xuồng cơm vàng có tiềm năng lớn trong việc nâng cao thu nhập cho nhà vườn. Tuy nhiên, cần có những kiến nghị cụ thể để cải thiện tình hình tiêu thụ và giá cả.

5.1. Kiến Nghị Về Chính Sách Hỗ Trợ Nhà Vườn

Cần có chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để giúp nhà vườn nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nhãn

Nhà vườn cần áp dụng các kỹ thuật trồng và chăm sóc hiện đại để nâng cao chất lượng nhãn, từ đó tăng giá trị sản phẩm trên thị trường.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp kinh tế đánh giá hiệu quả kinh tế và tìm hiểu thị trường tiêu thụ của nhãn tiêu huế và nhãn xuồng cơm vàng tại xã quới sơn huyện châu thành tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Dat vấn dé Chương này nêu lên sự cần thiết của để tài, mục đích, ý nghĩa, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 : Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày chi tiết những vấn dé lý luận liên quan đến vấn dé san xuất và tiêu thụ nhãn: các chỉ tiêu xác định kết quả và hiệu quả kinh tế. Chương 3 : Tổng quan Giới thiệu sơ lược về địa bàn điều tra tại xã Quới Sơn ( điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất.) Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này nêu lên những kết quả chủ yếu của phân tích đánh giá như : - Xác định hiệu quả kinh tế của hai loại nhãn, nhãn tiêu huế và nhãn xuồng cơm vàng ghép để thấy rõ khả năng sinh lợi của từng loại nhãn. - Xác định kênh tiêu thụ của hai loại nhãn và phân tích hiệu quả kinh tế của từng thành viên trong kênh tiêu thụ.

Chương 5 : Kết luận và kiến nghị. Chương này đánh giá kết quả đạt được từ đó rút ra những ưu nhược điểm mà đưa ra những kiến nghị và giải pháp để kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình phát triển kinh tế ở xã ® Cây Lúa, Nhãn, Dừa Cải tạo diện tích vườn dừa kém hiệu quả, vận động nông dân tiếp tục trồng xen 40 cây ca cao trong 42 ha vườn dừa. Theo mô hình VAC để tăng nguồn thu nhập cho nhân dân.

Ap dụng khoa học kỹ thuật dừa đạt 9. Tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi § ha nhãn long còn lại sang cây có hiệu quả kinh tế như xuồng cơm vàng hoặc cây có múi. ® Chăn nuôi Khuyến khích các hộ gia đình nuôi theo hình thức công nghiệp và bán công nghiệp ( heo, gà, vịt, bò, dé, cá.) khai thác diện tích mặt nước ao hồ nuôi cá, tôm 50 ha. Xây dựng nhiều mô hình thu nhập 50 triệu déng/ha/nam đảm bảo chăn nuôi không ô nhiểm môi trường.

® Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch Tiếp tục phát triển chợ xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tiểu thương, tiểu chủ buôn bán, hoạt động, kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo vệ sinh môi trường, trật tự văn minh. Tạo diéu kiện phát triển hai điểm du lịch Đồng quê ấp 9 và Côn cát ấp 2.2 Giới thiệu chung về cây nhãn và Lợi ích của việc trồng nhãn ® Giới thiệu chung về cây nhãn Nhãn là một loại quả đặc sản quý ở nước ta và đặc biệt nổi tiếng là giống nhãn lông Phổ Hiến (Hưng Yên). Cây nhãn có khả năng thích ứng rộng, được trồng nhiều nơi. Và gần đây, trong phong trào cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, diện tích nước ta tăng nhanh.

Trong tổng số trên 60.000 ha nhãn của cả nước thì ĐBSCL có diện tích không dưới 30.000 ha, tập trung nhiều ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng. Còn các tỉnh miền Bắc diện tích trồng nhãn cũng sắp xỉ 30.000 ha tập trung ở các tỉnh Hưng Yên, Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh.Riêng Hà Tây nhãn được trồng ở 285 xã thuộc 14 huyện thị ( chiếm 88% tổng số xã, phường ), và trong 5 năm qua tổng diện tích trồng nhãn đã tăng 2,7 lần (Nguyễn Xuân Cường, 1997). Đặc biệt là các công trình điều tra, tuyển chọn giống nhãn của Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Tây. đã bình tuyển được các cây đầu dòng tốt có năng suất cao, phẩm chất tốt, năng suất ổn định, được người làm vườn hoan nghênh và tiếp nhận.

® Lợi ích của việc trồng nhãn Nhãn là cây ăn quả đặc sản của vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Nhãn có tính thích nghỉ rộng, dễ trồng, có thể trồng được ở cả vùng đổi, tuổi thọ dài, sản lượng cao. Cây nhãn lông Phổ Hiến (Hưng Yên) có tuổi thọ đến 300 năm vẫn cho quả đều với sản lượng trung bình 500 kg quả/năm. Cây nhãn 80 tuổi vườn nha bác Cúc ở xã Quảng Châu (huyện Phù Tiên ) năm 1992 thu được 400 kg quả.

Vùng trồng nhãn ở Hưng Yên nhiều vườn thu nhập về nhãn chiếm 50 — 80% tổng thu nhập của gia đình. Có cây nhãn năm được mùa bán được 4 - 5 triệu đồng. Phong trào trồng nhãn đang được mở rộng ở nhiều tỉnh như Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Tiên Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp v. Quả nhãn có giá trị dinh dưỡng cao.

Trong cùi nhãn hàm lượng đường tổng số chiếm 12,38 — 22,55%, trong đó đường khử 3,85 — 10,16%, axit 0,09 — 0,10%, vitamin C 43,12 — 163,70 mg/100g. Một tác giả Nhật Bản cho biết trong quả nhãn còn có 196,5 mg/100g vitamin K, ngoài ra còn có các chất khoáng Ca, P, Fe,.đều là những chất cần cho nhu cầu dinh dưỡng của con người. Nhãn có thể ăn tươi, làm đồ hộp, sấy khô làm long nhãn, làm thuốc bổ diéu trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trí nhớ, mất ngủ hay hoảng hốt. Hạt nhãn, vỏ quả nhãn đều dùng làm thuốc trong Đông y.

Nhãn là cây nguồn mật quan trọng, có chất lượng cao, cây có tán cao, xòe rộng dùng làm cây bóng mát. Ở vùng ven sông nhãn còn có tác dụng giữ đất, tạo côn, chống ngập, lấn bãi.3 Nguôn gốc cây nhãn và các nước trồng nhãn nhiều nhất trên thế giới Theo De Candolle nguồn gốc cây nhãn ở Ấn Độ, vùng có khí hậu lục địa, vùng tây Ghats ở độ cao 1.600 m con có rừng nhãn dai. Ở các bang Bengal và Assam ở độ cao 1.000m trồng nhiều nhãn. Trên thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất và có sản lượng cao nhất.

Nhãn còn được trồng ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaixia, Việt Nam, Philippin. Sau thế kỷ 19 nhãn được nhập vào trồng ở các nước Âu Mỹ, Châu Phi, Ôxtrâylia trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cho đến nay diện tích và sản lượng nhãn trên thế giới chưa được thống kê đầy đủ vì nhãn thường được trồng trong “ vườn gia đình “ và sản lượng thu hoạch được thường bị để ngoài các dữ liệu thống kê quốc gia. Theo Phó Giáo sư Lô Mỹ Anh, Khoa Viên nghệ trường Đại Học Nông nghiệp Quảng Tây thì diện tích trồng nhãn ở Trung Quốc đạt 38 — 40 vạn mau ( 15 mẫu TQ bằng 1 ha ) chủ yếu ở các tỉnh duyên hải vùng Đông Nam: Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, thứ đến là Quảng Tây, Tứ Xuyên.

Ngoài ra còn trông lẻ té ở Vân Nam va Quy Châu. Riêng Phúc Kiến năm 1977 diện tích trồng nhãn trên 11.300 ha va san lượng năm cao nhất (1995) 50,7 nghìn tấn (Banh Kính Ba, 1989). Thái Lan bắt đầu trồng nhãn từ 1896, giống nhập của Trung Quốc. Sản lượng nhãn của Thái Lan năm 1990 dat 123.000 tấn, chủ yếu trồng ở miền bắc, đông bắc và vùng đồng bằng miễn trung, nổi tiếng nhất là các huyện Chiéng Mai, Lam Phun và Prae.

Ngoài tiêu thụ trong nước Thái Lan xuất khẩu cho Malaixia, Xingapo, Hồng Kông, Philippin và các nước EC. Chỉ riêng xuất khẩu nhãn trong ba năm qua Thái Lan đã tăng gấp 3 lần doanh thu xuất khẩu những hoa quả thứ yếu khác ( nhưng quan trọng về kinh tế ) như sầu riêng.4 Tình hình sản xuất nhãn tại Việt Nam Ở Việt Nam nhãn được trồng từ bao giờ chưa được nghiên cứu xác định. Cây nhãn được trồng lâu nhất là ở chùa Phổ Hiến thuộc xã Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên cách đây chừng 300 năm. Theo giáo sư Vũ Công Hậu (1982) “.

có thé miễn Bắc nước ta là một trong những vùng quê hương của cây nhãn. Hiện nay nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ : Hưng Yên, Nam Hà, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Giang, nhiều nhất là ở Hưng Yên tập trung ở thị xã Hưng Yên, các huyện Phù Tiên, Kim Thi, Cẩm Bình, Châu Giang, Ninh Thanh. Cả vùng có khoảng trên 2 triệu cây. Tính theo mật độ thông thường diện tích trồng nhãn lên đến 20.

Nhãn còn được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông Tiền, sông Hậu và vùng gò đổi ở các tỉnh Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Bắc Cạn, Thái Nguyên v. và lẻ té ở các tỉnh miễn Trung. Trong những năm gan đây, do cơ chế của thị trường và nhu cầu quả tươi tại chỗ, các tỉnh phía nam đang phát triển mạnh cây nhãn : Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vinh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long). Đặc biệt ở Tiền Giang diện tích nhãn tăng rất nhanh.

Diện tích trồng nhãn của cả nước ước khoảng 35. Dự báo đến năm 2000 con số này còn cao hơn rất nhiều do có chủ trương phát triển cây ăn quả ở các tỉnh miễn núi, vùng lòng hồ sông Đà, ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, các tỉnh vùng trung du phía bắc v. Nếu được áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và chăm sóc tốt vườn nhãn có thể đạt bình quân 5 tấn một ha. Song do thời tiết khí hậu hàng năm thay đổi, chủ vườn ít đầu tư vào việc chọn giống, chăm sóc, phân bón và phòng trừ sâu bệnh nên thường có hiện tượng cách năm.

Do đó hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao và đó là vấn đề đang đặt ra cần giải quyết đối với cây nhãn và nghề trồng nhãn ở nước ta.5 Giới thiệu chung về nhãn tiêu huế và nhãn xuồng cơm vàng ® Nhãn tiêu huế Hay còn gọi là nhãn tiêu da bò lá kép, có 10 — 13 lá chét, mút lá hơi bầu, mép lá hơi gợn sóng, phiến lá không phẳng, hơi xoắn, mặt lá màu xanh đậm, bóng. Quả khi chín có màu vàng da bò sẫm hơn. Trọng lượng quả trung bình 10 g/qua. Quả có cùi day, hạt nhỏ, ráo nước.

Phan ăn được khoảng 60% trọng lượng quả. Vỏ hạt không nứt. Độ ngọt vừa phải, ít thơm, chủ yếu dùng để ăn tươi. ® Nhãn xuông cơm vàng Giống nhãn xuéng đã được chọn lọc giữ lại từ hàng chục năm nay, do dạng quả có hình giống chiếc xuồng nên giống này có tên là nhãn xuéng.

Giống này có nguồn gốc tại Bà Rịa - Vũng Tàu trên 40 năm của vườn ông Phan Văn Tu, hiện được trồng tại các tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu, Tiền Giang, Vinh Long.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của Nhãn Tiêu Huế Và Nhãn Xuồng Cơm Vàng Tại Bến Tre" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả kinh tế của hai loại nhãn nổi tiếng tại Bến Tre. Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của nhãn, đồng thời đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế từ việc trồng và tiêu thụ nhãn. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng các phương pháp canh tác hiện đại, cũng như cách thức nâng cao giá trị sản phẩm nhãn trên thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn phát triển cây ăn trái tỉnh bến tre tiềm năng và định hướng, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tiềm năng phát triển cây ăn trái tại Bến Tre, bao gồm cả nhãn. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược phát triển bền vững trong nông nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.