ĐẶT VẤN ĐỀ Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Hạt tiêu là gia vị quý, được sử dụng với số lượng lớn trong công nghiệp chế biến đồ hộp, thực phẩm. Hồ tiêu chủ yếu trồng tại 9 tỉnh trọng điểm của nước ta, với tổng diện tích 100. Trong đó, Tây Nguyên là vùng có nhiều tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi để mở rộng diện tích trồng hồ tiêu.
Tại 4 tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng có diện tích 55.339 ha chiếm hơn một nửa tổng diện tích trồng hồ tiêu trên cả nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014). Công tác phòng trừ bệnh hại cây trồng hiện nay đã và đang áp dụng nhiều biện pháp, trong đó thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) vẫn là biện pháp chủ yếu nhưng tình trạng sử dụng thuốc BVTV không được quản lý chặt chẽ, cộng với sự thiếu kiến thức của không ít người dân dẫn đến việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đã gây “lợi bất cập hại”. Từ 77 loại hoạt chất được cho phép sử dụng năm 1991 đến năm 2010 có 437 thuốc trừ sâu, 304 thuốc diệt nấm và 160 thuốc diệt cỏ được cho phép sử dụng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010). Trong hai thập niên này số lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 20.
Chính việc lạm dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đã thay đổi cấu trúc lý tính của đất và gây mất cân bằng sinh thái quần thể vi sinh vật, tạo môi trường thuận lợi cho bùng phát dịch bệnh. Ngoài ra, dư lượng thuốc BVTV còn làm giảm chất lượng hạt tiêu, làm sản phẩm khó có thể đi vào các thị trường đòi hỏi chất lượng cao (Parween và cs. Do đó để khắc phục tình trạng trên, hướng sử dụng vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh trong phòng chống bệnh cho cây trồng nói chung và cây hồ tiêu nói riêng, được xem là giải pháp cần thiết nhằm thay thế các loại thuốc BVTV gây độc hại môi trường. Theo Pal và cộng sự, kiểm soát sinh học dịch hại cây trồng là việc sử dụng các sinh vật sống để ngăn chặn các hoạt động của quần thể hoặc của một tác nhân gây bệnh thực vật (Pal và cs.
Nhiều vi sinh vật đối kháng đã được tuyển 9 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH chọn, sử dụng cho sản xuất chế phẩm sinh học kiểm soát dịch hại vùng rễ cây và tiêu biểu là các chi Trichoderma, Bacillus, Streptomyces kiểm soát nấm bệnh Phytophthora, Pythium, Fusarium (Keswani và cs., (2013); Mardanova và cs. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kiểm soát sinh học nấm và tuyến trùng gây bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) bằng bộ chế phẩm sinh học ở tỉnh Gia Lai”.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kiểm soát sinh học nấm Phytophthora sp. và tuyến trùng Meloidogyne sp. gây bệnh chết nhanh chết chậm trên cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) bằng bộ chế phẩm sinh học bao gồm TRI-BIOMI3X, BIOMI-AntiFB 1, BIOMI-AntiN 1, BIOMI-Pest 1, BIOMI-Pest 2, BIOMI-Ferti. Nội dung thực hiện: Đánh giá hiệu quả kiểm soát nấm Phytophthora sp.
trước và sau khi sử dụng bộ chế phẩm sinh học trên cây hồ tiêu. Đánh giá hiệu quả kiểm soát tuyến trùng Meloidogyne sp. trước và sau khi sử dụng bộ chế phẩm sinh học trên cây hồ tiêu. Đánh giá mật độ vi sinh vật có lợi trong đất gồm vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật phân giải cellulose và vi sinh vật cố định đạm trước và sau khi sử dụng bộ chế phẩm sinh học trên cây hồ tiêu.
Đánh giá hiệu quả kích thích sinh trưởng, phát triển đối với cây hồ tiêu sau khi sử dụng bộ chế phẩm sinh học. 10 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS.
NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1. SƠ LƯỢC VỀ CÂY HỒ TIÊU (Piper nigrum L. Phân loại khoa học: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Piperales Họ: Piperaceae Chi: Piper Loài: Piper nigrum Lour Hình 1.1 Cây hồ tiêu (Piper nigrum Lour) - Tên khoa học: Piper nigrum Lour - Tên thường gọi: hồ tiêu, tiêu đen,.
12 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1. Phân bố và đặc điểm hình thái Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là một loại cây nho thân gỗ lâu năm trong họ hồ tiêu, trồng chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Brazil, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam (Krishnamoorthy và cộng sự, 2010).
Quả của hồ tiêu, được gọi là hạt tiêu, dùng làm hương liệu thực phẩm, nước hoa và được sử dụng làm thuốc trong y học (Acharya và cộng sự, 2012). Hạt và tinh dầu của cây hồ tiêu cũng đã được báo cáo là có các hoạt động chống oxy hóa, chống ung thư, hạ sốt, chống viêm (Ahmad và cộng sự, 2012). Vai trò và tình hình sản xuất Hồ tiêu là cây trồng mang lại giá trị kinh tế, là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của nước ta, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước. Năm 2010, diện tích trồng hồ tiêu mới chỉ đạt 51,3 nghìn ha.
Năm 2015, diện tích hồ tiêu đạt 101,6 nghìn ha, gấp 1,98 lần so với năm 2010. Diện tích hồ tiêu cao nhất đạt trên 150 nghìn ha trong năm 2017, sau đó do giá giảm và không ổn định nên đến năm 2020 còn 131,8 nghìn ha, tăng 30,2 nghìn ha so với năm 2015 và tăng 80,5 nghìn ha so với năm 2010. Việt Nam xuất khuẩn 95% khối lượng hạt tiêu, còn lại 5% tiêu thụ ở thị trường trong nước. Giá hồ tiêu đạt cao điểm vào năm 2015 và năm 2016, trung bình ngoại tệ thu về từ 8000-9500USD/tấn hồ tiêu xuất khẩu (Tổng cục thống kê, 2021).
Năm 2016, giá hồ tiêu liên tục giảm nên người trồng ít quan tâm chăm sóc, không phòng trừ sâu bệnh, hệ quả là năng suất và chất lượng kém. Tuy nhiên, Việt Nam đã xuất khẩu hồ tiêu đến 105 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất năm 2016 với 1. Hiện trạng canh tác cây hồ tiêu ở Gia Lai Với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi thích hợp để sản xuất cây hồ tiêu. Hiện nay, tỉnh Gia Lai được xem như là thủ phủ hồ tiêu của cả nước với thương hiệu tiêu Chư Sê.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến tháng 11 năm 2021, toàn tỉnh có 13. (Sở Nông nghiệp và PTNT Gia Lai, 2021) 13 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH Việc sản xuất hồ tiêu tại Tây Nguyên và Gia Lai nói riêng đang gặp nhiều khó khăn về giống, cây trụ, đặc biệt là sâu bệnh hại hồ tiêu.
Các loại sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu rất phức tạp và phong phú như: bệnh chết nhanh (Phytophthora sp.), bệnh chết chậm (Meloigyne sp.), tuyến trùng hại rễ (Meloigyne sp.), bệnh thán thư (Collectotrichum sp.), các loại rệp sáp (Pseudococcus sp., Ferisia virgata), mối, sâu ăn lá,. Trong đó các loại dịch hại phát sinh từ đất hết sức nguy hiểm và khó phòng trừ (Lâm Văn Minh và cộng sự. Hiện nay, việc sử dụng hóa chất diệt nấm và diệt tuyến trùng là những cách tiếp cận phổ biến nhất để quản lý bệnh hại hồ tiêu, nông dân sử dụng thuốc BVTV có mặt trên thị trường như: Trepachbul 607SL, Alpine 80WP, 800WDG, Mexyl MZ 72 WP. Tuy nhiên, phương pháp này có hại cho con người và gây ô nhiễm môi trường.
BỆNH CHẾT NHANH, CHẾT CHẬM TRÊN CÂY HỒ TIÊU 1. Bệnh chết nhanh 1. Lịch sử và biểu hiện bệnh Năm 1988, tên nấm bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu được Tsao và Alizadeh xác với tên gọi là Phytophthora capsici (Tsao và Alizadeh, 1988). Bệnh do những loại nấm sống dưới đất, ưa ẩm như Phytophthora sp.
gây ra, phát triển lây lan trong giai đoạn giữa và cuối mùa mưa. Nấm Phytophthora sp. kết hợp với các loại nấm trong đất khác như Fusarium sp.,… xâm nhập vào vết thương ở rễ bởi tuyến trùng Rotylenchulus sp. và Tylenchulus sp.
làm cho bệnh nghiệm trọng hơn (Bui và cs., 2013; Toh và cs. Khi bệnh tấn công vào rễ và thân làm cây hồ tiêu chết đột ngột. Khi cây hồ tiêu bị bệnh, chết rất nhanh nên lá vẫn còn nhiều trên cây, chưa kịp rụng và có triệu chứng lá bị héo nhưng vẫn còn xanh. Sau đó lá úa vàng, héo rũ, chết khô cùng với dây trên cây.
Rễ bị thối làm phá hủy các mạch libe và các mô thực vật hạn chế sự vận chuyển nước, chất dinh dưỡng từ rễ đến các bộ phận phía trên của cây (Ravindran và cộng sự. Đây cũng chính là một trong những bệnh nghiêm trọng làm giảm SVTH: PHAN THỊ MỸ LONG 14 THỰC TẬP TỐT NGHIỆP ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH sản lượng hồ tiêu Việt Nam và các nước Châu Á (Aravind và cộng sự, 2009; Trinh và cộng sự, 2019).
Phân loại khoa học Giới: Chromista Ngành: Oomycota Lớp: Oomycetes Bộ: Peronosporales Họ: Pythiaceae Giống (chi): Phytopthora Kích thước bào tử nấm rộng từ 23-25 μm, dài 38-60 μm và đường kính của bào tử trứng ở các loài khác nhau dao động từ 27-38 μm (Granke và cộng sự, 2011). Sinh sản vô tính, từ sợi nấm phát sinh ra cành mang bọc bào tử, bên trong chứa bào tử động, khi được phóng thích sẽ bơi trong nước đến xâm nhiễm vào cây trồng. Sợi nấm cũng có thể phân hóa tạo ra bào tử hậu có vách dày và chịu được điều kiện khắc nghiệt. Sinh sản hữu tính, từ sợi nấm hình thành nên bao đực và bao cái dung hợp để tạo ra bào tử trứng với vách dày có sức sống cao.
Bào tử hậu và bào tử trứng có thể tồn tại qua mùa đông rét lạnh và mùa hè khô hạn. Bào tử trứng có thể sống trong hệ tiêu hóa của ốc sên, nên ốc sên là động vật có thể phát tán bào tử trứng theo phân của chúng. Phytophthora là nguyên nhân gây rất nhiều bệnh trên cây ăn quả, rau màu và cây công nghiệp ở Việt Nam. Cách thức xâm nhiễm tùy thuộc từng loài, bào tử trứng, bọc bào tử động và du động bào tử tạo điều kiện cho việc xâm nhiễm vào các bộ phận khác nhau của cây.
Mưa làm phân tán bào tử lên bộ lá của cây vì vậy quá trình xâm nhiễm có thể bắt đầu từ thân, lá và quả, tùy thuộc loài Phytophthora và ký chủ. Côn trùng bò hoặc bay cũng có thể mang nấm từ đất tới các bộ phận phía trên của cây (Burgess và cộng sự, 2009).