Tổng quan nghiên cứu

Thoái hóa đất và xói mòn trên đất dốc là thách thức sinh thái nghiêm trọng tại các khu vực đồi núi nhiệt đới có lượng mưa dao động từ 1.500 mm đến 2.000 mm mỗi năm. Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) được đưa vào trồng phổ biến tại Việt Nam từ những năm 1960 nhờ đặc tính sinh trưởng nhanh và sinh khối lớn. Tuy nhiên, khả năng bảo vệ đất thực tế của loài cây này khi trồng thuần loài vẫn còn nhiều khoảng trống thực nghiệm. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề đánh giá định lượng năng lực giữ đất, giữ nước và chống xói mòn của rừng trồng Keo tai tượng thuần loài ở các cấp tuổi khác nhau so với hệ sinh thái rừng tự nhiên và rừng trồng Thông mã vĩ.

Mục tiêu cụ thể của công trình là xác định các chỉ tiêu cấu trúc lâm phần có mối liên hệ mật thiết với khả năng bảo vệ đất, lượng hóa các đặc tính lý tính của đất như độ ẩm, độ xốp, bề dày tầng đất, và tính toán cường độ xói mòn tiềm năng theo mô hình toán học sinh thái. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại Trung tâm Thực hành Thực nghiệm Nông lâm nghiệp thuộc Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc, nằm trên địa bàn hai phường Bắc Sơn và Vàng Danh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích tự nhiên 975,9 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 43,3% (422,3 ha) và diện tích rừng trồng chiếm 32,0% (312,3 ha với 235,2 ha rừng keo). Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao khi cung cấp hệ thống chỉ số định lượng giúp tối ưu hóa hệ số che phủ, giảm thiểu lượng đất mất trên sườn dốc từ 10 đến 25 độ và định hình các quy chuẩn kỹ thuật lâm sinh bền vững cho khu vực Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng nền tảng phương pháp luận hệ thống sinh thái rừng, tích hợp phương trình mất đất phổ dụng (USLE) của Wischmeier và Smith cùng mô hình toán học dự báo xói mòn chuyên biệt cho điều kiện lâm nghiệp Việt Nam do Giáo sư Vương Văn Quỳnh và cộng sự phát triển. Khung lý thuyết nhấn mạnh vai trò tương tác giữa động năng hạt mưa, cấu trúc phân tầng thực vật và các đặc tính động lực học của đất. Khi giọt mưa rơi tự do, tán cây rừng và lớp vật rơi rụng đóng vai trò triệt tiêu lực cơ học phá hủy kết cấu viên liên kết đất mặt, trong khi hệ rễ và thảm mục quyết định hệ số thấm qua các lỗ hổng mao quản và ngoài mao quản dựa trên nguyên lý dòng chảy Darcy.

Bốn khái niệm cốt lõi được định lượng hóa trong mô hình gồm: độ tàn che tầng cây cao (TC) phản ánh tỷ lệ che chắn không gian thẳng đứng; độ che phủ thảm tươi cây bụi (CP) và tỷ lệ che phủ thảm khô mục (TM) thể hiện năng lực ngăn dòng chảy tràn; độ xốp tổng số tầng đất mặt (X) đại diện cho khả năng thẩm thấu; và chỉ số xói mòn của mưa (K) với giá trị thực nghiệm tại khu vực đạt mức 514.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra ngoại nghiệp tại 18 ô tiêu chuẩn (OTC) có quy mô diện tích 1.000 m² (kích thước 25 m x 40 m), bố trí đại diện theo 3 vị trí địa hình đặc trưng gồm chân, sườn và đỉnh dốc. Cỡ mẫu bao quát 4 trạng thái rừng: Keo tai tượng cấp tuổi 1 (3 năm tuổi), Keo tai tượng cấp tuổi 2 (6 năm tuổi), rừng trồng Thông mã vĩ và rừng tự nhiên phục hồi trên 10 năm tuổi. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, phương pháp đo đếm ngẫu nhiên trên hệ thống 100 điểm dây tuyến được áp dụng để xác định tỷ lệ tàn che và che phủ mặt đất. Đồng thời, 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² được lập ở 4 góc và tâm để đo đếm thảm tươi cây bụi, kết hợp 5 ô nhỏ 1 m² để thu gom, cân đo khối lượng tươi và sấy khô kiệt mẫu thảm khô mục.

Để xác định các chỉ tiêu lý tính của đất, đề tài tiến hành đào phẫu diện đất kích thước 1,8 m x 0,8 m x 1,2 m tại từng ô tiêu chuẩn trong chiến dịch khảo sát mùa khô tháng 12 năm 2015. Phương pháp lấy mẫu dung trọng bằng ống trụ kim loại tiêu chuẩn thể tích 100 cm³ được thực hiện định lượng ở các tầng sâu 0-10 cm, 10-20 cm, 20-40 cm, 40-60 cm và 60-80 cm. Độ ẩm đất được xác định qua phương pháp sấy khô kiệt ở nhiệt độ 105°C đến 109°C, tỷ trọng đất phân tích qua bình định mức picnômét, và độ xốp tổng số được tính toán dựa trên quan hệ giữa dung trọng và tỷ trọng. Toàn bộ dữ liệu được phân tích thống kê hồi quy, phân tích tương quan tuyến tính và kiểm định sai biệt Student t-test trên phần mềm máy tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học ở mức ý nghĩa 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cấu trúc tầng cây cao, rừng tự nhiên đạt đường kính bình quân 13,6 cm, chiều cao vút ngọn bình quân 9,5 m và độ tàn che 68% với mật độ 603 cây/ha. Trong khi đó, rừng Keo cấp tuổi 1 có đường kính 4,1 cm, chiều cao 3,5 m, độ tàn che 40%; rừng Keo cấp tuổi 2 đạt đường kính 9,1 cm, chiều cao 6,4 m và độ tàn che tăng lên 63% nhưng mật độ cá thể rất dày đặc ở mức 1.498 cây/ha.

Thứ hai, lớp thực vật tầng thấp và thảm khô có sự chênh lệch rõ rệt giữa các trạng thái rừng. Độ che phủ thảm tươi cây bụi ở rừng tự nhiên đạt 67%, rừng thông đạt 63%, trong khi rừng Keo cấp 1 chỉ đạt 38% và Keo cấp 2 đạt 44%. Khối lượng tích lũy thảm khô khô kiệt ở rừng tự nhiên cao nhất với 7.623 kg/ha (độ che phủ 80%), rừng thông đạt 6.877 kg/ha (độ che phủ 72%), còn rừng Keo cấp 1 chỉ đạt 4.681 kg/ha (độ che phủ 57%) và Keo cấp 2 đạt 6.085 kg/ha (độ che phủ 65%). Đáng chú ý, hệ số biến động phân bố thảm khô ở rừng keo lên tới 19%, cao hơn gấp 2,1 lần so với mức 9% của các trạng thái rừng đối chứng.

Thứ ba, bề dày tầng đất có xu hướng tỷ lệ nghịch với độ dốc sườn đồi. Rừng tự nhiên trên sườn dốc trung bình 15,7 độ duy trì bề dày đất đạt mức 120 cm, trong khi rừng Keo cấp 1 (độ dốc 12 độ) đạt bề dày 90 cm và Keo cấp 2 (độ dốc 13 độ) đạt 103,3 cm. Tại các vị trí sườn và đỉnh có độ dốc trên 20 độ ở rừng thông, bề dày tầng đất chỉ còn khoảng 80 cm.

Thứ tư, độ ẩm và độ xốp tầng đất mặt thể hiện sự suy giảm đáng kể ở rừng keo thuần loài. Độ ẩm đất trung bình vào mùa khô của rừng tự nhiên đạt 16,4% và rừng thông đạt 15,7%, vượt trội so với mức 13,4% của Keo cấp 1 và 12,1% của Keo cấp 2. Tại tầng đất mặt 0-10 cm, độ ẩm đất rừng keo chỉ đạt 11,4% so với mức 19,3% của rừng đối chứng. Độ xốp đất tầng mặt 0-10 cm của rừng đối chứng đạt 60,55%, cao hơn rừng keo (51,53%) tới 9,02%. Kiểm định t-test cho thấy sự khác biệt độ xốp tầng mặt có ý nghĩa thống kê rõ nét với giá trị t tính toán bằng 4,48, lớn hơn giá trị t tiêu chuẩn 2,12 ở mức xác suất 0,05.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm độ che phủ thảm mục và độ xốp đất mặt dưới tán rừng keo xuất phát từ biện pháp kỹ thuật lâm sinh phát dọn thực bì định kỳ từ 1 đến 2 lần mỗi năm trong quá trình chăm sóc rừng trồng. Việc dọn sạch tầng thảm tươi đã làm mất đi lớp đệm sinh học bảo vệ đất, khiến mặt đất bị phơi lộ trực tiếp dưới bức xạ nhiệt và lực va đập của hạt mưa. Dữ liệu thực nghiệm phân tích tương quan cho thấy độ ẩm đất có liên hệ rất chặt chẽ với tuổi rừng (hệ số tương quan R = 0,88), phản ánh quá trình khép tán và tích lũy chất hữu cơ theo thời gian, trong khi mối tương quan đơn lẻ với độ tàn che tầng cây cao lại tương đối thấp với hệ số xác định R² chỉ đạt 0,04.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các công trình nghiên cứu trước đây của các nhà khoa học lâm nghiệp tại Việt Nam, khẳng định rừng tự nhiên kiểm soát dòng chảy mặt tốt hơn rừng trồng thuần loài từ 2,5 đến 27 lần. Dưới tán rừng Keo tai tượng thuần loài ít tuổi, sinh khối rễ chưa hoàn thiện và nhu cầu thoát hơi nước cao trong mùa khô khiến tầng đất mặt bị khô hạn cục bộ. Các kết quả này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua đồ thị phân tán biểu diễn đường hồi quy tuyến tính giữa tuổi rừng với độ ẩm đất, biểu đồ cột ghép so sánh độ xốp biến thiên theo 5 tầng sâu phẫu diện, và bảng đối chiếu cường độ xói mòn tính toán nhằm phục vụ công tác quy hoạch lưu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu thập được, bốn nhóm giải pháp lâm sinh trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao năng lực giữ đất và chống xói mòn:

  • Điều chỉnh quy trình xử lý thực bì và chăm sóc rừng: Chuyển đổi triệt để từ phương thức phát quang trắng sang phát dọn theo băng đồng mức hoặc tỉa cục bộ quanh gốc cây. Duy trì độ che phủ thảm tươi cây bụi tầng thấp tối thiểu trên 60% và lượng thảm mục trên 6.000 kg/ha nhằm giảm cường độ xói mòn đất bề mặt từ 30% đến 40%. Ban Quản lý rừng và Trung tâm Thực hành Nông lâm nghiệp cần ban hành quy chế kỹ thuật mới và áp dụng ngay trong chu kỳ chăm sóc rừng quý 1 năm tiếp theo.
  • Thực hiện mô hình lâm sinh hỗn giao cây bản địa: Tiến hành trồng dặm và xen canh các loài cây gỗ bản địa có tán lá rậm rạp, khả năng cải tạo đất và rễ cọc sâu như Lim xanh, Giổi hoặc Re vào rừng keo sau tuổi 3. Mục tiêu nâng độ tàn che tổng thể của lâm phần lên trên 75% và tăng độ xốp đất tầng mặt thêm 10% đến 15% sau 5 năm chuyển hóa. Đơn vị chủ trì là Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc phối hợp cùng các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp.
  • Thiết lập công trình sinh học bảo vệ đất dốc: Đối với các lô rừng trồng có độ dốc trên 15 độ, xây dựng hệ thống rãnh giữ nước cắt dòng chảy tràn kết hợp trồng các hàng rào thực vật chắn đất bằng cỏ sả hoặc cây họ đậu cách nhau 15 m đến 20 m theo đường đồng mức. Giải pháp hướng tới kiểm soát hệ số dòng chảy mặt dưới 5% và duy trì bề dày tầng đất mặt ổn định trên 100 cm trong vòng 12 tháng thi công. Trách nhiệm thực hiện thuộc về cán bộ kỹ thuật lâm sinh địa phương.
  • Quy định mật độ lâm phần và kéo dài luân kỳ khai thác: Áp dụng biện pháp tỉa thưa hợp lý ở cấp tuổi 2 để điều chỉnh mật độ từ 1.498 cây/ha xuống mức tối ưu khoảng 800 đến 1.000 cây/ha. Khuyến khích kéo dài chu kỳ kinh doanh gỗ lớn từ 6 năm lên 10 đến 12 năm nhằm phát huy tối đa chức năng bảo vệ nguồn nước và chống suy thoái đất. Chính quyền thành phố Uông Bí và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phê duyệt cơ chế hỗ trợ tài chính dài hạn trong kế hoạch giai đoạn tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực, rất giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên ngành:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý rừng phòng hộ: Ứng dụng số liệu định lượng về hệ số xói mòn K = 514 và độ tàn che để xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật, quy hoạch ranh giới rừng phòng hộ đầu nguồn và thẩm định hồ sơ thiết kế trồng rừng ven biển, đồi dốc tại vùng Đông Bắc.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Sử dụng phương pháp luận bố trí 18 ô tiêu chuẩn, quy trình phân tích phẫu diện đất 5 tầng sâu và mô hình toán dự báo xói mòn của Giáo sư Vương Văn Quỳnh làm tài liệu tham khảo giảng dạy, nghiên cứu mở rộng về sinh thái học cảnh quan.
  • Doanh nghiệp lâm nghiệp và các chủ rừng kinh tế: Tham khảo các số liệu về mật độ lâm phần (1.498 cây/ha) và tốc độ sinh trưởng của Keo tai tượng để tối ưu hóa quy trình trồng rừng kết hợp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, ngăn chặn thoái hóa đất sau khai thác.
  • Kỹ sư lâm sinh và cán bộ khuyến nông lâm cơ sở: Áp dụng trực tiếp các hướng dẫn kỹ thuật phát dọn thực bì theo băng, quản lý thảm mục và biện pháp cơ giới hóa nhẹ trên sườn dốc nhằm nâng cao tỷ lệ sống và năng suất lập địa thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao độ ẩm tầng đất mặt dưới tán rừng Keo tai tượng lại thấp hơn rừng tự nhiên? Kết quả đo đạc thực tế trong mùa khô cho thấy độ ẩm tầng đất mặt 0-10 cm của rừng keo chỉ đạt 11,4% so với 19,3% ở rừng tự nhiên. Nguyên nhân do rừng keo non có mật độ cao (1.498 cây/ha) dẫn đến sinh trưởng mạnh, tiêu thụ nước lớn, kết hợp với độ tàn che chỉ đạt 40% đến 63% và việc dọn thực bì làm bốc hơi nước nhanh.

Hoạt động chăm sóc rừng phát dọn thực bì ảnh hưởng như thế nào đến khả năng giữ đất? Phát dọn thực bì làm giảm độ che phủ thảm tươi xuống mức 38% và khiến hệ số biến động thảm khô tăng cao tới 19%. Đất bị mất lớp thảm phủ bảo vệ sẽ bị hạt mưa công phá trực tiếp, làm giảm độ xốp tầng mặt từ 60,55% xuống còn 51,53%, tạo điều kiện cho dòng chảy tràn cuốn trôi tầng đất màu mỡ.

Phương trình xói mòn của Giáo sư Vương Văn Quỳnh được ứng dụng như thế nào? Phương trình tính toán cường độ xói mòn tiềm năng (mm/năm) dựa trên 6 tham số thực nghiệm: chỉ số mưa K (514), độ dốc sườn (10 đến 25 độ), độ tàn che TC, tổng độ che phủ thảm tươi và thảm khô (CP + TM), độ xốp tầng đất mặt X và chiều cao vút ngọn bình quân Hvn, giúp lượng hóa chính xác rủi ro mất đất.

Mối quan hệ giữa độ dốc địa hình và bề dày tầng đất dưới tán rừng được thể hiện ra sao? Bề dày tầng đất tỷ lệ nghịch chặt chẽ với độ dốc. Tại các vị trí chân dốc có độ dốc từ 8 đến 10 độ, bề dày tầng đất đạt tối đa 120 cm. Ngược lại, tại các vị trí sườn và đỉnh dốc có độ dốc từ 20 đến 26 độ, bề dày tầng đất bị suy giảm mạnh chỉ còn khoảng 80 cm.

Làm thế nào để cải thiện độ xốp và phục hồi độ phì nhiêu cho đất rừng Keo thoái hóa? Biện pháp hữu hiệu nhất là dừng việc đốt dọn thực bì trắng, duy trì lớp thảm mục khô trên 6.000 kg/ha để bổ sung mùn hữu cơ tự nhiên, kết hợp tỉa thưa điều chỉnh mật độ về 800-1.000 cây/ha và trồng xen các loài cây họ đậu cố định đạm nhằm phục hồi kết cấu hạt liên kết của đất.

Kết luận

  • Đánh giá định lượng thành công năng lực giữ đất của rừng Keo tai tượng qua hệ thống 18 ô tiêu chuẩn thực nghiệm tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  • Chứng minh rừng Keo thuần loài có độ xốp tầng mặt (51,53%) và độ ẩm mùa khô (12,1% - 13,4%) thấp hơn đáng kể so với rừng tự nhiên (độ xốp 60,55%, độ ẩm 16,4%).
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi gây nguy cơ xói mòn là do kỹ thuật phát dọn sạch thực bì làm suy giảm thảm mục xuống dưới 4.700 kg/ha và làm tăng hệ số biến động che phủ lên 19%.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp lâm sinh đồng bộ: phát dọn theo băng, chuyển hóa rừng hỗn giao bản địa, xây dựng bờ công trình sinh học và kéo dài luân kỳ khai thác.
  • Kế hoạch tiếp theo cần tập trung chuẩn hóa quy trình kỹ thuật lâm sinh cấp vùng trong vòng 6 đến 12 tháng tới nhằm bảo vệ bền vững tài nguyên đất dốc đầu nguồn.