Mở đầu là quy hoạch vùng đất xây dựng hệ thống rừng phòng hộ lưu vực sông Đà và thuỷ điện Hoà Bình (1989). Tiếp đó, hàng loạt các Dự án xây dựng rừng phòng hộ khác cũng được phê duyệt và triển khai. - Giai đoạn 1995 - 1998 ghi nhận sự đổi mới và đầu tư lớn về kinh phí vào trồng rừng phòng hộ trong phạm vi cả nước theo Chương trình 327. Đến ngày 12/9/1995 bằng Quyết định số: 556 - TTg của Thủ tướng Chính phủ đã giới hạn Chương trình 327 thành Chương trình Quốc gia về “Bảo vệ, khôi phục rừng phòng hộ, rừng đặc dụng” và cũng từ đây quy định cụ thể về phương thức, kỹ thuật, loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn được quy định cụ thể hơn.
Nhiều mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có hiệu quả đã được xây dựng thành công trong phạm vi cả nước. - Giai đoạn 1998 đến nay: việc xây dựng RPHĐN được thực hiện theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, trong đó khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng phòng hộ và đặc dụng là 1 triệu ha, trồng mới 1 triệu ha (tổng cộng là 2 triệu ha). Vũ Tiến Hinh (1995) [13] qua nghiên cứu đã cho thấy mật độ lâm phần có ảnh hưởng rõ nét đến sản lượng, đặc biệt là đến sinh trưởng đường kính. Do đó, tác giả lưu ý việc tìm hiểu quy luật biến đổi của mật độ, vì đây là cơ sở xác định biện pháp tác động hợp lý để lâm phần đạt sản lượng cao nhất.
Các loài cây bản địa chưa được các tác giả, nhà nghiên cứu chú ý đến. Hầu hết các tác giả mới chỉ tập trung vào nghiên cứu sâu về các loài cây sinh trưởng mạnh, nhập ngoại phục vụ cho mục đích kinh doanh gỗ. Các nghiên cứu về các loài cây bản địa còn ít nếu có thì mới chỉ dừng ở mức: nghiên cứu về hình thái, phân loại và làm giàu rừng, còn ít công trình nghiên cứu sâu về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tình hình sinh trưởng nhất là các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng và điều kiện lập địa, nghiên cứu về các biện pháp quản lý chất lượng rừng đề tài nghiên cứu còn hạn chế. Các công trình nghiên cứu rừng phòng hộ ở Việt Nam Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ.
Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất quan tâm. Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan tâm ở nước ta từ trước năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè, cống. Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa học có giá trị về xói mòn đất như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao Văn Vinh về ảnh hưởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc; Tôn Gia Huyên (1967), Chu Đình Hoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1963) đã tập trung nghiên cứu ở vùng Tây Bắc, Bắc Thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và công trình trồng cây phân xanh che phủ đất; nghiên cứu của Chu Đình Hoàng và Đào Khương về những nét đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu nhiệt đới Việt Nam. Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng, xây dựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng, gạch, gỗ, kim loại như trạm nghiên cứu xói mòn An Châu (Hữu Lũng - Lạng Sơn), trạm Ekmat (Buôn Mê Thuột), trạm nghiên cứu xói mòn đất Tây Nguyên [17].
Đối với đất vùng đầu nguồn tỉnh Hoà Bình [17], các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc sử dụng hợp lý đất dốc và những biện pháp bảo vệ nó. Tiêu biểu như nghiên cứu về Canh tác trên đất dốc của Ngô Đình Quế - Đinh Văn Quang (1998); Nghiên cứu tính chất rừng bảo vệ đất của Nguyễn Hải Tuất, Vương Văn Quỳnh và Hà Quang Khải. Quan điểm chung được các nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghiên cứu xác định là trong điều kiện địa hình dốc, khả năng bảo vệ đất của rừng chủ yếu là khả năng chống lại xói mòn đất. Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được nhiều tác giả quan tâm.
Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”. Trong đó, các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước. Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý. Một số tác giả lại tập trung nghiên cứu vai trò điều tiết nguồn nước, xói mòn của rừng, ảnh hưởng của thảm thực vật tới dòng chảy của các con sông [11] như công trình của Nguyễn Viết Phổ (1992), Vũ Văn Tuấn (1997, 1981),… Những nghiên cứu này đã cho ta thấy vai trò điều tiết nước rất hữu hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho các con sông, suối vào mùa khô, dòng chảy kiệt ở những vùng có rừng cao hơn những vùng không có rừng.
Theo Nguyễn Anh Dũng (2006) [1], thì ở nước ta hiện nay có 2 giải pháp kỹ thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung. Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “Khoanh núi, nuôi rừng”. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà trong một thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính. Mãi đến những năm 1990, cái được gọi là “Khoanh núi, nuôi rừng” mới được định hình và phát triển theo cụm thuật ngữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 “Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.
Điều này được thể hiện trong 2 quy phạm ngành QPN 14 - 92 và QPN 21 - 98. Trồng rừng phòng hộ là giải pháp duy nhất để khôi phục rừng trên những vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hoá. Trong đó việc lựa chọn những loài cây trồng là một khâu rất được chú ý vì nó góp phần quyết định đến khả năng phòng hộ của rừng. Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn, một danh sách gồm 34 loài cây trồng rừng phòng hộ đã được đề xuất cho trồng rừng phòng hộ trên cả nước.
Hoàng Liên Sơn và các cộng tác viên (2005) đã tổng kết và đưa ra danh sách 50 loài cây chia thành 4 nhóm chính được sử dụng cho trồng rừng phòng hộ trong Dự án 661 trên phạm vi toàn quốc [13]. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công Khanh (1997) [11], đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho trồng rừng phòng hộ ở một số vùng trọng điểm. Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản địa đưa vào trồng rừng phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, kết hợp được với nhau, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, giữ gìn điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, giữ đất, sống lâu năm, tán lá dày, rậm và thường xanh, bộ rễ phát triển sâu,…các tác giả đã đưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ dự tuyển cho 7 vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nước. Trong đó, vùng Tây Bắc có 2 mô hình là: - Thông 3 lá + Táo mèo: 1 hàng (3x2)m + 1 hàng (3x2)m.
- Long não + Trẩu ta: rạch 1 hàng (9x2)m + băng 2 hàng (3x2)m. Võ Đại Hải (2000) [11], trong khi nghiên cứu những giải pháp cho quản lý và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên đã đưa ra một số mô hình phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình tại Kbang - Sơ Pai tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên Quốc lộ 22 gần huyện Kông - Plông miền Đông Kon Tum; mô hình ở Tỉnh Lộ 674 Phú Thiệu - Krông cho vùng Đông Nam Pleiku; mô hình gần Quốc lộ 20 vùng hồ Thuỷ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Tiên - Đà Lạt. Đây đều là các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục hồi sau nương rẫy. Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng sung các đối tượng rừng trên đều phục hồi rất tốt.
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [11], Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 188 mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình. Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng thuần loài và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre, Luồng trồng thuần loài. Trong những năm gần đây, các mô hình này đã đa dạng và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh.
Ngoài ra, rừng Tre, Luồng có khả năng chống xói mòn tốt do rụng nhiều và khó phân huỷ, rễ cây nhiều chủ yếu phân bố bề mặt đất nên che phủ đất tốt. Vấn đề nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng trong các phương thức trồng rừng cũng đã được quan tâm [3]. Đặc biệt là phương thức trồng rừng hỗn loại: các nhà lâm học người Pháp và người Việt từ đầu thế kỷ tới nay đã không ngừng thử nghiệm trồng rừng hỗn loại ở nhiều vùng với nhiều loài cây, nhiều phương thức. Tuy vậy kết quả còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được đưa vào sản xuất với các quy mô.