BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ------------------------------------- LÊ MINH CƯỜNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY LÁ RỘNG BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ Ở ĐẠI LẢI – VĨNH PHÚC LÀM CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN HÓA RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP HÀ TÂY - 2007 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ------------------------------------- LÊ MINH CƯỜNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY LÁ RỘNG BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ Ở ĐẠI LẢI – VĨNH PHÚC LÀM CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN HÓA RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI Chuyên ngành: LÂM HỌC Mã số: 60.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HUY SƠN HÀ TÂY - 2007 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ------------------------------------- LÊ MINH CƯỜNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY LÁ RỘNG BẢN ĐỊA TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ Ở ĐẠI LẢI – VĨNH PHÚC LÀM CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN HÓA RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI Chuyên ngành: LÂM HỌC Mã số: 60.60 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP HÀ TÂY - 2007 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn được hoàn thành tại: KHOA SAU ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HUY SƠN Người phản biện 1: Người phản biện 2: Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn theo Quyết định số. năm 2007 họp tại: Vào hồi . năm 2007 Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Trung tâm Thông tin tư liệu và Thư viện trường đại học lâm nghiệp - Khoa sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Hầu hết các chương trình trồng rừng trước đây và hiện nay như: Pam, 327, 661. đều trồng thuần loài. Rừng trồng thuần loài có nhiều ưu điểm như cho sản phẩm nhanh và đồng nhất về quy cách. song cũng có không ít nhược điểm như không bền vững, nhiều sâu bệnh hại, khả năng phòng hộ môi trường kém. Đặc biệt, các loài cây trồng rừng chủ yếu là Thông, Keo, Bạch đàn, các loài này gần đây đã phát hiện sâu bệnh hại hàng loạt (sâu róm ở Thông, đốm lá và cháy lá ở Bạch đàn, phấn hồng ở Keo. Đến năm 1999, tổng diện tích rừng trồng cả nước là 1.394ha, trong đó diện tích rừng trồng Thông thuần loài là 218. Hiện nay cây Thông được xem như là một trong những loài cây trồng chính được lựa chọn cho chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của cả nước, do vậy diện tích rừng Thông ngày càng được tăng mạnh. Bên cạnh giá trị kinh tế không thể phủ nhận đối với cây Thông thì việc trồng rừng thuần loài đã chứng tỏ không bền vững, thường xuyên bị sâu bệnh hại mà điển hình là bệnh sâu róm thông đã xảy ra ở nhiều nơi trong 2 – 3 năm gần đây. Nhằm phát triển rừng theo hướng bền vững, đa dạng nguồn sản phẩm từ việc trồng nhiều loài cây gỗ có giá trị khác nhau, hạn chế được sự bùng phát dịch bệnh, cải thiện môi trường sinh thái do đó việc gây trồng một số loài cây lá rộng bản địa dưới tán rừng Thông là việc làm cần thiết. Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ có tổng diện tích đất tự nhiên là 908,8ha, trong đó có 677,5ha rừng trồng, 70ha rừng tự nhiên và các diện tích khác. Từ khi thành lập, Trung tâm đã tiến hành khảo nghiệm và trồng rất nhiều các mô hình với mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, các loài cây trồng chủ yếu là: Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông caribê, Keo tai tượng, Keo lai, Keo lá tràm, bạch đàn.Các mô hình này đã đáp ứng được mục tiêu ban đầu là phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhưng đa số là rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thuần loài. Trong số các loài cây trồng tại Trung tâm thì diện tích rừng Thông mã vĩ chiếm tỷ lệ đáng kể. Các mô hình Thông mã vĩ này được trồng trong nhiều năm, trong đó có 50ha được trồng từ năm 1976. Diện tích rừng Thông mã vĩ này hiện nay đã có dấu hiệu sinh trưởng chậm lại, sức sống kém. Chính vì thế từ năm 2000, với mục tiêu xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài các cây lá rộng bản địa có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò phòng hộ của rừng, Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ đã tiến hành trồng một số loài cây lá rộng bản địa như Lim xanh (Erythrophloeum fordii Oliv), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev), Re hương (Cinnamomum iners Reinw), Sao đen (Hopea odorata Roxb), Ràng ràng xanh (Ormosia pinnata) trong đó tác giả của bản luận văn là cộng tác viên chính thực hiện xây dựng mô hình này. Kết quả bước đầu cho thấy các loài cây này đã tỏ ra sinh trưởng tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ. Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đặt ra, việc “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lá rộng bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ ở Đại Lải – Vĩnh Phúc làm cơ sở để chuyển hóa rừng thông thuần loài thành rừng hỗn loài” là cần thiết và cấp bách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới. Trong những năm gần đây, rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiên cứu, thử nghiệm và trồng rừng thành công bằng những loài cây bản địa. Trong nhiều loại cây trồng, các cây thuộc chi Paulownia đang được sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Theo Trần Quang Việt (2001) [32], từ những năm 1960, cùng với phong trào lục hóa và xây dựng các đai rừng phòng hộ bảo vệ đồng ruộng, chi Paulownia được tiếp tục nghiên cứu và phát triển ở Trung Quốc. Viện hàn lâm Lâm nghiệp Trung Quốc (CAF) đã tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống từ phân loại, đặc tính sinh thái, phân bố đến kỹ thuật gây trồng và sử dụng các loài cây trong chi Paulownia. Theo Nguyễn Ngọc Lung (1993) [14], cây Tếch (Tectona grandis) là loài phân bố tự nhiên ở các nước: Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan và Lào. Tại Châu Á, Thái Bình Dương, nhiều nước đã trồng thành công và biến vùng này thành thị trường truyền thống gỗ Tếch trên thế giới với sản lượng 4 triệu m3/năm lấy từ gỗ có đường kính 6 cm trở lên. Riêng Thái Lan [34], ở Huay Sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là: - Xuất xứ Huay Sompoi (tọa độ địa lý 180 vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ Đông) - Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19003’ vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ Đông). Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa của Nhật Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV. Vào năm 1987 [33], Nhật Bản đã sản xuất được 49 triệu cây hom loài này phục vụ trồng rừng. Bằng các vòng chọn lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, chọn lọc, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 kết quả gây trồng và tiếp tục chọn lọc, cho đến nay Nhật Bản đã chọn được 32 dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: khả năng ra rễ cao của hom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao. Tại Malaysia, năm 1999 [36], trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi. Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong rừng tự nhiên. Trên băng trồng 6 hàng cây bản địa. Trồng 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm: Khối A: Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa; Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa; Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa. Khối B: Chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cây bản địa; Chặt 2 hàng keo trồng 2 hàng cây bản địa; Chặt 4 hàng keo trồng 4 hàng cây bản địa. Kết quả cho thấy, trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 loài: Shorea roxburrghii; S. leprosula sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất. Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10m và băng 40m. Băng 20m không thỏa mãn điều kiện sinh trưởng chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 hàng và 16 hàng. Trồng rừng dưới tán theo đám hoặc theo băng với cự ly cách đều đã tạo ra các lâm phần hỗn loài khác nhau trong tự nhiên sau khai thác. Theo Hoàng Văn Thắng (2002) [23], tại Cote d’lvoire phương thức trồng rừng dưới tán này được thiết lập với các loài cây gỗ như Hertiera utilis, Khaya invorensis, Terminalia invorensis, Aucoumea klaineana, Entandrophagma spp, Lovoa trichilioides, Lophira alata, Guarea cedrata, Entandrophlogma angolense. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Sau đó vào những năm 1960 việc trồng rừng đã được phát triển và mở rộng, nhiều loài cây khác đã được sử dụng vào trồng rừng hỗn loài như: Entandrophragma cylindricum, Terminalia superba, Triplochiton scleroxylon, Thieghenmella heckelli, Afzelia spp, Nauclea diderrichii, Mitragyna ciliata, Pycnanthus angolensis, Cedrela odorata, Tectona grandis, Gmelina arborea, Acacia mangium, Acacia auriculiformis, Cassia siamea var Eucalyptus. Trong phần lớn các trường hợp, sự kết hợp các loài cây này gồm các loài cây cho gỗ lớn và loài cây cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu.000ha rừng hỗn loài đã được trồng ở Cute d’voire từ năm 1930. Một số nước trên thế giới đã có những nghiên cứu trồng cây bản địa dưới tán rừng cây lá kim hoặc cây lá rộng thuần loài và có những kết luận về khả năng sinh trưởng cũng như giá trị kinh tế của những loại rừng này. Tại Kasma Forest Technology Center (Nhật Bản) [35] đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều độ cao khác nhau, đặc biệt ở vùng Tsucuba có độ cao dưới 876m so với mực nước biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese ceder) để tạo ra những lâm phần bền vững có giá trị và họ đã nhận thấy có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến từng cây.
Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam hiện có khoảng 1.394 ha diện tích rừng trồng, trong đó rừng Thông thuần loài chiếm 218 ha, đóng vai trò quan trọng trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng quốc gia. Tuy nhiên, rừng thuần loài như Thông, Keo, Bạch đàn đang đối mặt với nhiều vấn đề như sâu bệnh hại nghiêm trọng, giảm khả năng phòng hộ và bền vững sinh thái. Tại Đại Lải – Vĩnh Phúc, rừng Thông mã vĩ trồng từ năm 1976 đã có dấu hiệu sinh trưởng chậm, sức sống kém, đặt ra yêu cầu cấp thiết chuyển hóa rừng thuần loài thành rừng hỗn loài nhằm tăng tính đa dạng sinh học và cải thiện môi trường sinh thái.
Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lá rộng bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ tại Đại Lải, làm cơ sở khoa học cho việc chuyển hóa rừng thuần loài thành rừng hỗn loài. Nghiên cứu được thực hiện trên diện tích 3 ha thuộc Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng bền vững, đa dạng hóa nguồn sản phẩm gỗ và tăng cường vai trò phòng hộ của rừng, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết sinh thái rừng và mô hình rừng hỗn loài nhằm tăng cường đa dạng sinh học và bền vững sinh thái. Hai lý thuyết chính được áp dụng gồm:
- Lý thuyết đa dạng sinh học trong rừng hỗn loài: Đa dạng loài giúp giảm thiểu rủi ro sâu bệnh, tăng khả năng thích nghi với biến đổi môi trường và cải thiện chức năng sinh thái.
- Mô hình sinh trưởng cây dưới tán rừng: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tàn che tầng cây cao đến sinh trưởng của cây bản địa, xác định điều kiện ánh sáng và dinh dưỡng phù hợp cho các loài cây lá rộng.
Các khái niệm chính bao gồm: độ tàn che tầng cây cao, sinh trưởng đường kính gốc (D00), chiều cao vút ngọn (HVN), đường kính tán (DT), và chất lượng cây rừng (cây tốt, trung bình, xấu).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp sinh thái thực nghiệm kết hợp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC) với dung lượng mẫu lớn (n ≥ 30) để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy. Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên đầy đủ lặp lại 3 lần trên diện tích 3 ha, với các công thức mật độ tỉa thưa rừng Thông mã vĩ là 250 cây/ha (độ tàn che 0,52) và 200 cây/ha (độ tàn che 0,41).
Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu sinh trưởng cây bản địa (Lim xanh, Lim xẹt, Re hương, Sao đen, Ràng ràng xanh) trồng xen dưới tán rừng Thông mã vĩ từ năm 2000, 2001 và 2004. Các chỉ tiêu đo đếm gồm đường kính gốc (D00), chiều cao vút ngọn (HVN), đường kính tán (DT), tỷ lệ sống và chất lượng cây. Độ tàn che được xác định bằng phương pháp hình chiếu đường kính tán trên mặt phẳng nằm ngang.
Phân tích số liệu sử dụng thống kê sinh học với kiểm định phương sai (F-test), phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) và kiểm tra sai dị giữa các trung bình (t-test). Thời gian nghiên cứu kéo dài 7 năm, từ 2000 đến 2007.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Đặc điểm đất đai và khí hậu khu vực nghiên cứu: Đất Feralit đỏ vàng có pHKCl từ 4,00 đến 4,31, dung trọng đất từ 1,05 đến 1,17 g/cm³, hàm lượng mùn từ 1,56% đến 3,24%, đạm từ 0,05% đến 0,22%. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa chiếm 82,8% lượng mưa năm với nhiệt độ trung bình 23,9°C và độ ẩm không khí trung bình 79,9%, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng cây trồng.
-
Sinh trưởng rừng Thông mã vĩ: Ở tuổi 31, rừng Thông mã vĩ có đường kính trung bình D1.3 từ 32,0 đến 33,6 cm, chiều cao vút ngọn 16,3 đến 16,6 m, độ tàn che từ 0,44 đến 0,58 tùy mật độ. Tăng trưởng đường kính và chiều cao trong giai đoạn 24-31 tuổi chỉ tăng khoảng 5-8%, cho thấy rừng đã bước vào giai đoạn sinh trưởng chậm.
-
Khả năng sinh trưởng của cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ: Sau 7 năm trồng, tỷ lệ sống các loài cây bản địa đạt cao, từ 85,3% đến 90,7%. Lim xanh có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất với đường kính gốc trung bình 6,0-6,4 cm, chiều cao 4,2-4,3 m và đường kính tán 2,0-2,5 m; Re hương đứng thứ hai; Lim xẹt sinh trưởng chậm nhất. Độ tàn che tầng cây cao ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính tán của Lim xanh, nhưng ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác và các loài còn lại.
-
Ảnh hưởng của tầng cây bụi và thảm tươi: Mật độ cây bụi từ 7.000 đến 8.500 cây/ha với chiều cao trung bình 1,18-1,32 m, không cạnh tranh ánh sáng nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và nước với cây bản địa. Độ che phủ thảm tươi đạt 42,8%, có tác dụng bảo vệ đất nhưng cũng cạnh tranh dinh dưỡng.
Thảo luận kết quả
Kết quả cho thấy việc trồng xen các loài cây lá rộng bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ là khả thi và có hiệu quả sinh trưởng tốt, góp phần đa dạng hóa cấu trúc rừng và tăng cường bền vững sinh thái. Độ tàn che tầng cây cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng tán lá của một số loài như Lim xanh, phù hợp với lý thuyết sinh trưởng cây dưới tán rừng.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế và trong nước, kết quả tương đồng với mô hình rừng hỗn loài tại Malaysia và Nhật Bản, nơi cây bản địa sinh trưởng tốt dưới tán rừng thuần loài. Việc quản lý tầng cây bụi và thảm tươi cần được chú trọng để giảm cạnh tranh dinh dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho cây bản địa phát triển.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao và đường kính tán theo từng loài và công thức mật độ, cũng như bảng so sánh tỷ lệ sống và chất lượng cây giữa các loài và mật độ tàn che.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tỉa thưa rừng Thông mã vĩ để điều chỉnh độ tàn che nhằm tạo điều kiện ánh sáng phù hợp cho cây bản địa phát triển, ưu tiên mật độ 200-250 cây/ha tương ứng độ tàn che 0,41-0,52. Thời gian thực hiện: ngay trong giai đoạn 1-2 năm tới. Chủ thể: Trung tâm KHSX Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ.
-
Áp dụng kỹ thuật trồng xen cây bản địa với mật độ 625 cây/ha (4m x 4m), sử dụng cây con 8-12 tháng tuổi, bón lót 0,2 kg NPK/cây và chăm sóc phát dọn thực bì theo băng rộng 4m. Thời gian: trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5-6). Chủ thể: cán bộ kỹ thuật và người dân địa phương.
-
Quản lý tầng cây bụi và thảm tươi bằng phát dọn định kỳ để giảm cạnh tranh dinh dưỡng và nước, tăng khả năng sinh trưởng của cây bản địa. Thời gian: chăm sóc hàng năm trong 3 năm đầu. Chủ thể: nhân viên quản lý rừng và cộng đồng dân cư.
-
Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa rừng thuần loài thành rừng hỗn loài dựa trên kết quả nghiên cứu, làm tài liệu tham khảo cho các địa phương và đơn vị trồng rừng. Thời gian: hoàn thiện trong 1 năm. Chủ thể: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các trường đại học liên quan.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà quản lý và hoạch định chính sách lâm nghiệp: Sử dụng kết quả để xây dựng chính sách phát triển rừng bền vững, đa dạng sinh học và phòng hộ môi trường.
-
Các đơn vị trồng rừng và doanh nghiệp lâm nghiệp: Áp dụng kỹ thuật trồng hỗn loài và quản lý rừng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.
-
Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Lâm học, Sinh thái học: Tham khảo phương pháp nghiên cứu sinh trưởng cây dưới tán rừng và các mô hình rừng hỗn loài.
-
Cộng đồng dân cư địa phương và cán bộ kỹ thuật: Nắm bắt kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bản địa dưới tán rừng, góp phần phát triển kinh tế rừng và bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao cần chuyển hóa rừng thuần loài thành rừng hỗn loài?
Rừng thuần loài dễ bị sâu bệnh, giảm bền vững và khả năng phòng hộ kém. Rừng hỗn loài đa dạng sinh học, giảm rủi ro dịch bệnh và cải thiện môi trường sinh thái. -
Loài cây bản địa nào sinh trưởng tốt nhất dưới tán rừng Thông mã vĩ?
Lim xanh có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất về đường kính gốc, chiều cao và đường kính tán, phù hợp với độ tàn che từ 0,41 đến 0,52. -
Độ tàn che tầng cây cao ảnh hưởng thế nào đến sinh trưởng cây bản địa?
Độ tàn che ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính tán của Lim xanh, trong khi các chỉ tiêu khác và các loài khác ít bị ảnh hưởng. -
Kỹ thuật trồng cây bản địa dưới tán rừng như thế nào?
Trồng xen với mật độ 625 cây/ha, xử lý thực bì theo băng rộng 4m, sử dụng cây con 8-12 tháng tuổi, bón lót NPK và chăm sóc phát dọn thực bì định kỳ. -
Làm sao quản lý cây bụi và thảm tươi để hỗ trợ cây bản địa?
Phát dọn cây bụi và thảm tươi định kỳ để giảm cạnh tranh dinh dưỡng và nước, tạo điều kiện cho cây bản địa sinh trưởng tốt hơn.
Kết luận
- Rừng Thông mã vĩ tại Đại Lải đã bước vào giai đoạn sinh trưởng chậm, cần chuyển hóa thành rừng hỗn loài để tăng tính bền vững.
- Các loài cây lá rộng bản địa như Lim xanh, Re hương, Lim xẹt sinh trưởng tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ với tỷ lệ sống trên 85%.
- Độ tàn che tầng cây cao từ 0,41 đến 0,52 là phù hợp cho sinh trưởng cây bản địa, đặc biệt ảnh hưởng đến đường kính tán của Lim xanh.
- Kỹ thuật trồng xen, xử lý thực bì và quản lý cây bụi là các biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao hiệu quả chuyển hóa rừng.
- Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa rừng thuần loài thành rừng hỗn loài, góp phần phát triển lâm nghiệp bền vững.
Áp dụng các biện pháp kỹ thuật đề xuất tại các khu vực rừng Thông thuần loài khác, đồng thời mở rộng nghiên cứu để đa dạng hóa loài cây bản địa phù hợp với từng vùng sinh thái.