CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan giải phẫu sinh lý giác mạc Giác mạc là phần trước nhất của nhãn cầu, trong suốt, nhẵn bóng, không có mạch máu và phong phú về thần kinh. Giác mạc có hình dạng hơi oval, đường kính ngang của giác mạc từ 11 – 12 mm, đường kính dọc từ 9 – 11 mm. Độ dày giác mạc ở trung tâm khoảng 0,5 mm và ở chu biên khoảng 0,7 mm. Bán kính độ cong giác mạc ở mặt trước là 7,8 mm, ở mặt sau là 6,6 mm.
Công suất hội tụ của giác mạc từ 40 đến 44 D, chiếm 2/3 công suất khúc xạ tổng của mắt.9 Giác mạc có cấu tạo 5 lớp gồm: biểu mô, màng Bowman, nhu mô, màng Descemet và lớp nội mô.1) - Biểu mô dày khoảng 50 µm, chiếm khoảng 10% bề dày giác mạc, là loại biểu mô lát tầng, có khoảng 5 đến 7 tầng tế bào được chia làm 3 lớp tế bào từ trước ra sau gồm: lớp tế bào nông, lớp tế bào trung gian và lớp tế bào đáy. - Màng Bowman là một màng trong suốt, đồng nhất dày từ 10 đến 13 µm, không có tế bào. Màng khá dai nhưng khi bị tổn thương thì không có khả năng hồi phục, ở các vùng bị tổn hại, các tế bào xơ sẽ xâm nhập làm mất tính chất trong suốt. - Nhu mô dày khoảng 500 µm, chiếm 90% bề dày của giác mạc, được cấu tạo bởi các sợi collagen và chứa các tế bào giác mạc.
Mỗi sợi collagen có đường kính 34 – 40 nm xếp cách nhau 20 – 50 nm. Tính chất trong suốt của giác mạc nhờ các thớ sợi xếp song song, kích thước đồng đều, có chỉ suất khúc xạ cao hơn môi trường và khoảng cách giữa các sợi bé hơn chiều dài của sóng ánh sáng. Các tổn thương ở lớp nhu mô khi hồi phục không đảm bảo được cấu trúc bình thường của các sợi collagen và để lại sẹo vĩnh viễn. - Màng Descemet được cấu tạo bởi các sợi collagen dạng lưới.
Đây là lớp màng rất dai và đàn hồi, chỉ dày 6 µm. Màng Descemet tương đối bền vững với. các enzym phân hủy protein. Màng Descemet có thể bảo vệ nhãn cầu cả trong trường hợp bị loét sâu, mất tổ chức.
- Nội mô chỉ gồm một lớp tế bào dày khoảng 5 µm, rộng 20 µm hình đa giác trong đó hầu hết là hình lục giác, không có khả năng tái sinh. Có sự giảm tế bào nội mô theo tuổi, tử 3500 – 4000 tế bào/mm 2 ở trẻ con xuống còn khoảng 2500 tế bào/mm2 ở người trên 65 tuổi. Nội mô có chức năng vô cùng quan trọng vì nó chứa bơm Na+/K+-ATPase đảm bảo ổn định lượng nước vào và ra của giác mạc.1 Giải phẫu giác mạc “ Nguồn: M. Ansari 2016”10 - Lớp pre-Descemet (hoặc lớp Dua’s) được mô tả gần đây với vai trò như một lớp thứ 6 của giác mạc11,12 có tồn tại hay không vẫn còn gây tranh cãi.13 Giác mạc là một trong những mô có mật độ phân bố thần kinh cao nhất và nhạy cảm nhất trong cơ thể.14 Mật độ của các đầu dây thần kinh trong giác mạc lớn hơn khoảng 300 – 400 lần so với ở da.15,16 Hầu hết các dây thần kinh cảm giác trong giác mạc có nguồn gốc từ thần kinh thể mi của nhánh nhãn cầu thuộc dây thần kinh sinh ba.
Các dây thần kinh mi dài cấu tạo nên vòng thần kinh quanh rìa. kinh đi xuyên hướng tâm vào giác mạc ở lớp nhu mô sâu ngoại vi và sau đó đi ra phía trước, tạo thành một đám rối thần kinh tận cùng ở dưới biểu mô. 17 Các sợi thần kinh mất myelin trong một khoảng cách ngắn từ điểm đi vào giác mạc, xuyên qua lớp màng Bowman, và kết thúc ở lớp tế bào trung gian của biểu mô.1 Tổng quan Loạn thị là tật khúc xạ không hình cầu do các mặt khúc xạ như giác mạc, thủy tinh thể có độ cong khác nhau, trong đó 1 kinh tuyến có độ cong tối đa với công suất tối đa, và 1 kinh tuyến có độ cong tối thiểu với công suất tối thiểu. Hai kinh tuyến này được gọi là 2 kinh tuyến chính.
Các tia sáng song song đến mắt không hội tụ tại một điểm duy nhất mà hội tụ trên hai đường thẳng gọi là tiêu tuyến. Tiêu tuyến đứng trước là tiêu tuyến của kinh tuyến có công suất tối đa. Tiêu tuyến đứng sau là tiêu tuyến của kinh tuyến có công suất tối thiểu. Kinh tuyến dọc có tiêu tuyến ngang và kinh tuyến ngang có tiêu tuyến dọc.
Chóp ánh sáng dựa trên 2 đường tiêu tuyến này còn được gọi là chóp Sturm, trong đó ở khoảng giữa 2 tiêu tuyến là một mặt cắt hẹp nhất gọi là vòng ít khuyếch tán. Loạn thị toàn phần nhãn cầu là tổng hợp các công suất loạn thị của các bộ phận cấu thành quang hệ nhãn cầu. Hai cấu trúc có ảnh hưởng loạn thị lớn nhất là giác mạc và thủy tinh thể. Trong phẫu thuật PHACO, thủy tinh thể được loại bỏ, loạn thị tồn dư sau phẫu thuật chủ yếu là loạn thị giác mạc.2 Loạn thị giác mạc Loạn thị giác mạc toàn bộ bao gồm loạn thị mặt trước giác mạc và loạn thị mặt sau giác mạc.
Bán kính cong trung bình của mặt trước giác mạc theo chiều ngang khoảng 7,8 mm và theo chiều dọc khoảng 7,7 mm nên tạo ra một độ loạn thị sinh lý khoảng 0,5 D. Loạn thị mặt trước giác mạc có xu hướng chuyển từ loạn thị thuận sang loạn thị nghịch theo tuổi. Loạn thị giác mạc mặt sau thường không thay đổi theo thời gian. Trong khoảng 85% người trưởng thành, loạn thị giác mạc mặt sau có.
kinh tuyến công suất tối đa là kinh tuyến dọc. Vì mặt sau giác mạc đóng vai trò là thấu kính âm, nên mặt khúc xạ này làm tăng công suất của tiêu tuyến ngang, từ đó làm tăng độ lớn của loạn thị nghịch trên tổng công suất loạn thị giác mạc. Công suất trung bình của loạn thị giác mạc mặt sau là 0,3 – 0.5 D, tuy nhiên có thể thay đổi trên mỗi dân số khác nhau. Do đó, công suất loạn thị mặt trước giác mạc đo lường được thường tăng cao hơn ở chỉ số loạn thị thuận và giảm thấp hơn ở chỉ số loạn thị nghịch so với tổng công suất loạn thị của giác mạc.5 Loạn thị giác mạc mặt sau được cho rằng không có ý nghĩa lâm sàng bởi sự khác biệt nhỏ giữa chỉ số khúc xạ của thủy dịch và giác mạc.3 Phân loại loạn thị giác mạc Loạn thị được phân thành hai hình thái loạn thị chính là loạn thị đều và loạn thị không đều.1 Loạn thị đều Giác mạc loạn thị đều được ví như bề mặt cong của quả bóng bầu dục.
Trên giác mạc loạn thị đều, công suất khúc xạ thay đổi lần lượt từ kinh tuyến này đến kinh tuyến khác và tại mỗi điểm trên kinh tuyến đối xứng qua đồng tử thì đều có độ cong tương tự nhau, hay là có mức dộ loạn thị bằng nhau. Hai kinh tuyến có công suất khúc xạ cao nhất và thấp nhất vuông góc với nhau. Loạn thị đều có thể điều chỉnh bằng kính trụ. Phân loại kinh điển loạn thị đều dựa vào độ tương quan của 2 kinh tuyến18 - Loạn thị thuận: kinh tuyến dọc (70 – 110o) của giác mạc cong hơn, có tiêu tuyến ngang nằm trước.
- Loạn thị nghịch: kinh tuyến ngang (0 – 20o hoặc 160 – 180o) của giác mạc cong hơn, có tiêu tuyến dọc nằm trước. - Loạn thị chéo: khi hai kinh tuyến chính không ở vị trí dọc và ngang. Phân loại loạn thị theo toán đồ Nichamin19. - Loạn thị thuận: kinh tuyến có công suất cao hơn nằm trong khoảng 31 o – 149o - Loạn thị nghịch: kinh tuyến có công suất cao hơn nằm trong khoảng 0o – 30o /150o – 180o Phân loại loạn thị đều dựa vào vị trí tiêu tuyến đối với võng mạc (Sơ đồ 1.1) - Loạn thị đơn: 1 tiêu tuyến nằm trên võng mạc tiêu tuyến còn lại trước võng mạc: loạn cận đơn tiêu tuyến còn lại sau võng mạc: loạn viễn đơn - Loạn thị kép: cả 2 tiêu tuyến đều nằm về một phía của võng mạc nếu 2 tiêu tuyến trước võng mạc: loạn cận kép nếu 2 tiêu tuyến sau võng mạc: loạn viễn kép - Loạn thị hỗn hợp: 1 tiêu tuyến ở trước võng mạc, 1 tiêu tuyến ở sau võng mạc.1 Sơ đồ loạn thị “ Nguồn: C.2 Loạn thị không đều Trong hình thái loạn thị không đều, bề mặt giác mạc là một dạng bóng bầu dục không đồng đều hoặc có bề mặt nhấp nhô.
Về mặt lý thuyết, nếu hướng của các kinh tuyến chính của loạn thị thay đổi giữa các điểm qua đồng tử, hoặc khi các kinh tuyến của giác mạc không vuông góc với nhau hoặc công suất khúc xạ không bằng nhau giữa các điểm khảo sát trên cùng kinh tuyến gọi là loạn thị không đều. Mỗi mắt đều có một mức độ loạn thị không đều nhẹ nhất định, tuy nhiên thuật ngữ này dùng trong lâm sàng chỉ để nói đến những bất thường lớn về độ cong giác mạc như các thoái hóa, loạn dưỡng giác mạc, sẹo giác mạc sau viêm hoặc sau chấn thương, phẫu thuật, giác mạc hình chóp.9,17 Kính gọng ít điều chỉnh được loại loạn thị này, thường phải dùng kính tiếp xúc cứng.20 Tùy thuộc theo loại loạn thị mà mức độ ảnh hướng đến thị lực sẽ khác nhau, nhìn chung loạn thị lớn hơn 0,75 D thường gây giảm thị lực và cần được điều chỉnh. Loạn thị nghịch đòi hỏi kính gọng trụ có công suất điều chỉnh lớn hơn loạn thị thuận cùng biên độ.22 Tương quan tương đối của thị lực không chỉnh kính và công suất kính trụ cần sử dụng được trình bày trong Bảng 1.1 Tương quan thị lực không chỉnh kính và kính trụ cần sử dụng “Nguồn Nigel Morlet 2001”22 Thị lực 20/30 20/40 20/50 20/70 20/100 20/150 20/20 20/250 20/300 0 Loạn thị nghịch 1,00 1,50 2,00 2,50 3,00 4,00 4,50 5,50 6,25 Loạn thị thuận 0,75 1,25 1,50 2,00 2,50 3,25 4,00 4,25 5,50 Loạn thị chéo 0,75 1,00 1,50 1,75 2,25 2,75 3,50 4,25 5,00 1.4 Các phương pháp chẩn đoán loạn thị giác mạc Loạn thị mặt trước giác mạc có thể được đo lường bởi nhiều cách thức khác nhau bao gồm: giác mạc kế (keratometry) tự động hay giác mạc kế đo bằng tay, bản đồ giác mạc (topography) dựa trên nguyên lý Placido, chụp cắt lớp Scheimpflug hoặc chụp cắt lớp cố kết quang học bán phần trước (AS – OCT). Các phương pháp chụp.
cắt lớp giác mạc hay bản đồ giác mạc giúp chẩn đoán những trường hợp loạn thị giác mạc không đều mà giác mạc kế đo tay hay giác mạc kế tự động có thể bỏ qua.