Chương 1 – T NG AN Ề N ĐỀ GIAO Đ T CHO TH Ê Đ T Đ I IT CH C KINH T C T NƯ C NGO I TẠI I T NAM 1. Chính sách sách đất đai và vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài tại iệt Nam 1. Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài ở nước ta Đầu tư phát triển bằng vốn của doanh nghiệp nước ngoài dưới dạng đầu tư trực tiếp FDI là một chủ trương lớn của Nhà nước ta ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp "Đổi Mới". Năm 1987, uật Đầu tư nước ngoài tại iệt Nam đầu tiên được Quốc hội thông qua.
rong 3 năm đầu thực hiện, số lượng dự án FDI cũng như tổng vốn đăng ký là những con số nhỏ bé, gần như không đáng kể (năm 1998 có 37 dự án với 341,7 triệu U D vốn đăng ký, năm 1999 có 67 dự án với 525,5 triệu U D và năm 1990 có 107 dự án với 735,0 triệu U D). Đến năm 2008, số lượng dự án FDI cũng như lượng vốn đăng ký đã được đẩy lên mức rất cao: có 1.557 dự án với 71,7 tỷ U D vốn đăng ký, trong đó 20% vốn đăng ký đầu tư vào thị trường bất động sản. [6] Để triển khai thực hiện việc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài (Đ NN) trong thời gian tới, Nhà nước ta đã và đang thực hiện những nội dung cơ bản như: Hoàn thiện hệ thống luật pháp và cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế, cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả các loại thị trường (bất động sản, vốn, dịch vụ, lao động và khoa học-công nghệ).
heo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp phép, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. ăng cường cơ chế phối hợp quản lý Đ NN giữa rung ương và địa phương và giữa các Bộ, ngành liên quan.
Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại uật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý Đ NN. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ập trung các nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước… nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại iệt Nam… Ban hành các chính sách thích hợp nhằm khuyến khích tư nhân, gồm cả doanh nghiệp Đ NN tham gia tích cực vào đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. ăng cường công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Đ NN nói riêng. Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương phù hợp trong tình hình mới.
Có các chính sách kêu gọi đầu tư, tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển và quy hoạch phát triển ngành, địa phương; triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm; xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch các cấp, bao gồm cả trong nước lẫn đại hiện ở nước ngoài nhằm tạo sự đồng bộ và phối hợp nâng cao hiệu quả giữa các hoạt động này; kết hợp chặt chẽ các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước với các hoạt động xúc tiến đầu tư-thương mại-du lịch. Đ NN trở thành nguồn vốn quan trọng của các nước đang phát triển. Ở nước ta, nguồn vốn nước ngoài dần trở thành một nguồn vốn không thể thiếu trong việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước. hu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, đóng góp tích cực vào ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn đinh cho người lao động.
Đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. ừ mức đóng góp trung bình 6.3% GDP trong giai đoạn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1991-1995, khu vực Đ NN đã tăng 10. rong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14.6%, và con số này không ngừng tăng trong những năm tiếp theo, năm 2005 là 15.5%, trong hai năm 2006 và 2007 con số này là 17%. Dòng vốn Đ NN vào iệt Nam ngày càng gia tăng, góp phần bổ sung vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.
Báo cáo của Bộ ế hoạch và Đầu tư cho thấy, từ năm 1988 đến năm 2011, tổng vốn đăng ký còn hiệu lực của 13.496 dự án FDI là 195,9 tỷ U D, vốn thực hiện là 88,2 tỷ U D, chiếm 43,2% vốn đăng ký. [19] Các doanh nghiệp có vốn Đ NN không những đã góp phần mở rộng thị trường ngoài nước, nâng cao năng lực xuất khẩu của iệt Nam mà còn thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và các hoạt động dịch vụ khác: inh doanh khách sạn, dịch vụ, tư vấn, công nghệ, kim ngạch xuất khẩu khu vực tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. rong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của iệt Nam, sản phẩm của các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn Đ NN chiếm tỷ trọng đáng kể như giày dép chiếm 42%, dệt may chiếm 25% và hàng điện tử, linh kiện, máy vi tính chiếm 84%. [4] Nguồn vốn Đ NN bao gồm vốn tài trợ phát triển chính thức ( DF) trong đó chiếm tỷ trọng chủ yếu là vốn viện trợ phát triển chính thức ( DA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tê và nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
Ở nước ta nguồn vốn Đ NN chủ yếu là vốn DA và vốn FDI. Nội dung luận văn nghiên cứu về hiệu quả chính sách giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào iệt Nam nên chỉ tập trung đánh giá các tổ chức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của các cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh nay.
[34] ổ chức thương mại hế giới đưa ra định nghĩa về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. rong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. rong trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
[39] Nền kinh tế nước ta ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của vốn FDI. rước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư xã hội góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn vừa qua, góp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), đóng góp cho ngân sách Nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động. Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp có vốn Đ NN tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất. Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việc trong các dự án FDI.
ới vai trò quan trọng như trên, FDI đã trở thành nguồn vốn nước ngoài được ưu tiên thu hút của nước ta. heo thống kê, tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án Đ NN được cấp phép đầu tư với số vốn đăng ký khoảng 98 tỷ U D (kể cả vốn tăng thêm), nếu trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ U D. rong đó các tỉnh phía Bắc thu hút được 2.220 dự án, các tỉnh phía Nam từ Ninh Thuận trở vào thu hút được 5.452 dự án, còn lại là khu vực Bắc và Nam rung bộ. Điều này cho thấy, dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào iệt Nam đã tăng mạnh qua từng thời kỳ trong hai thập kỷ qua.
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 dòng vốn Đ NN đổ vào iệt Nam trong giai đoạn 1997-1999 có phần trầm lắng hơn (chỉ có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký 13,11 tỷ U D). Đến năm 2000, dòng vốn này đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi và thực sự bứt phá từ năm 2003 đến nay - đây chính là dấu hiệu của "làn sóng Đ NN" thứ hai vào iệt Nam. [27] rong khoảng 2 năm gần đây, nhiều chuyên gia kinh tế đã có những điều tra về hiệu quả của luồng vốn FDI và cho rằng hiệu quả đầu tư không cao, cần chấn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉnh để tạo đóng góp lớn hơn cho đất nước. Một số nhận xét chủ yếu bao gồm: [6] 1.