chương 1, Quyết định 380/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/4/2008: “Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng của môi trường rừng (điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học. Theo quy định tại Khoản 23 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau: Dịch vụ môi trường rừng là hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng. Dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi trường. Môi trường rừng là môi trường do kết quả tác động của rừng tạo ra cho xã hội và tự nhiên.
Nó là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế trong hệ sinh thái chung. Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services), viết tắt là PES được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ sinh thái. Chi trả DVMT là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó DVMT được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu là một người mua) mua của người bán (tối thiểu là một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp DVMT đảm bảo được việc cung cấp DVMT này” (Wunder, 2005, p9). Cho đến nay, định nghĩa về chi trả DVMTR được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven, 2005 5 (Payments for Environmental Services: Some Nuts and Bolts.
CIFOR, Occasional Paper No. Theo tác giả này, “Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quá trình giao dịch tự nguyện được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán dịch vụ môi trường rừng, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường rừng đó một cách hợp lý”. Chi trả DVMTR là một cách tiếp cận mới để khuyến khích chủ rừng, những người quản lý rừng cung cấp dịch vụ môi trường rừng tốt hơn. Chi trả DVMTR giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng hoặc khuyến khích những người còn chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Theo khoản 3, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã đưa ra cách hiểu về chi trả DVMTR: “Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”. Như vậy, PES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ mà xác định rõ đối tượng cung cấp (người thụ hưởng) và đối tượng sử dụng (người chi trả). Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả… 1. Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới Chi trả DVMTR là một lĩnh vực hoàn toàn mới, trong những năm 90 của thế kỷ XX mới được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện.
Với những giá trị và lợi ích bền vững của việc chi trả DVMTR đã thu hút được sự quan tâm đáng kể của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Chi trả DVMTR đã nhanh chóng trở lên phổ biến ở một số nước và được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Hiện nay, chi trả DVMTR được xem như một chiến lược dựa vào thị trường để 6 quản lý tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích và chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội. Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã áp dụng và thực hiện các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất.
Ở châu Âu chính phủ một số nước đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiêu chương trình, mô hình DVMTR. Chi trả dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện đang được thực hiện tại các quốc gia Costa Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa Kỳ. Trong hầu hết các trường hợp này, thực hiện tối đa hóa các dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn thông qua các hệ thống chi trả đều mang lại kết quả góp phần giảm nghèo. Ở châu Úc, Australia đã lập pháp hóa quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng.
Chi trả DVMTR cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm ở châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Nepal và Việt Nam bước đầu đã xây dựng được các chương trình chi trả DVMTR có quy mô lớn, chi trả cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu được một số thành công nhất định trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng đầu nguồn. Chi trả DVMTR đang được thử nghiệm ở một số nước trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ năm 2002, Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích cực giới thiệu khái niệm chi trả DVMTR (PES) vào Việt Nam. Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho người nghèo vùng cao cho các DVMTR mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là “Xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở châu Á” thông qua xây dựng các cơ chế nhằm đền đáp người 7 nghèo vùng cao về các DVMTR họ cung cấp cho các cộng đồng trong nước và trên phạm vi toàn cầu.
Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng. Ở một số nước PES còn được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng các DVMT đã dẫn đến việc thay đổi cách tiếp cận về bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc tạo ra các cơ chế chi trả và các thị trường non trẻ đối với các dịch vụ này. Giá trị kinh tế toàn cầu của các dịch vụ môi trường ước tính khoảng hàng nghìn tỷ USD, mặc dù các chi trả thực tế để bảo vệ các dịch vụ này đang phát triển không đồng đều trên toàn cầu. Hầu hết các thị trường và hệ thống chi trả đều đang phát triển ở Bắc Mỹ và châu Âu, vượt trội bởi các chi trả cho môi trường nông nghiệp đã đạt nhiều tỷ USD và tạo thuận lợi cho công tác bảo tồn công và tư nhân. Ở các nước đang phát triển, chỉ có một vài tỷ USD được sử dụng để chi trả cho bảo vệ đầu nguồn.
Trong khi ở châu Mỹ Latinh, PES đã được thử nghiệm rộng rãi bằng nhiều hệ thống khác nhau thì ở châu Á và châu Phi, sự phát triển PES vẫn còn hạn chế. Hiện tại, PES được xem như là một công cụ dựa vào thị trường cho dịch vụ hệ sinh thái. PES đa dạng về cơ chế, từ mô hình bồi thường tự nguyện để duy trì rừng hoặc các biện pháp canh tác nông - lâm nghiệp ở Trung Mỹ, đến bồi thường bắt buộc để tái trồng rừng ở Trung Quốc và Việt Nam, các mô hình thương mại ở Ôxtrâylia và Hoa Kỳ, hỗ trợ môi trường - nông nghiệp và các mô hình cấp chứng nhận ở Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ (dịch vụ hệ sinh thái liên quan đến nguồn nước). Quy mô các mô hình này trải dài từ các lưu vực nhỏ đến lớn, có thể cắt ngang qua bang, tỉnh hoặc biên giới quốc gia.
8 Tính khả thi của mô hình xuyên quốc gia hiện tại đang dần được thăm dò (WWF đang thăm dò khả năng này đối với Sông Đa Núp). (Lê Văn Hưng,2011 trích theo Stefano Pariola, 2010) Theo xu thế toàn cầu, Chính phủ Trung Quốc đã tạo mọi nỗ lực trong việc xây dựng một số mô hình công để chi trả dịch vụ môi trường lớn nhất thế giới. Những mối quan tâm về tính hiệu quả và bền vững tài chính của những nỗ lực này, các nhà hoạch định chính sách đang tranh luận sôi nổi về việc làm thế nào để thúc đẩy các chương trình này cũng như thăm dò và phát triển các công cụ dựa vào thị trường và những thay đổi quy định để giải quyết tốt hơn những thách thức về phát triển và môi trường của Trung Quốc (Lê Văn Hưng, 2011 trích theo Xu & cs. Chỉ đến năm 2002, đã có hơn 300 mô hình PES đã được thống kê trên toàn thế giới (Pagiola S.
Plates, 2002; Agriculture at a Crossroads: The Global Report, pp 244). Hầu hết các mô hình này đã được hoạt động trong vài năm, một số mô hình vẫn còn ở quy mô thực nghiệm hoặc ở giai đoạn thử nghiệm. Tóm lại, đã có một số nghiên cứu thực nghiệm chứng minh các biện pháp quản lý tốt nhất và các bài học kinh nghiệm về PES. Tuy nhiên, mới chỉ có một số bài học đầu tiên và các biện pháp quản lý tốt nhất mới nổi đã được tư liệu hóa.
Theo điều tra, các mô hình PES thường được đáp ứng với các điều kiện đặc trưng mà theo đó chúng được xây dựng và cũng đáp ứng các đặc trưng của thị trường đối với các loại dịch vụ môi trường khác nhau (bảo vệ đầu nguồn, đa dạng sinh học, hấp thụ cacbon và cảnh quan du lịch) (Lê Văn Hưng, 2011 trích theo Pagiola và Platais, 2002). Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương Thực của Liên Hiệp Quốc (FAO), trong cuốn “Hiện trạng về lương thực và nông nghiệp” xuất bản năm 2007, thì những sáng kiến PES hiện tại đang được áp dụng có 2 nguồn gốc chính: Chính sách về nông nghiệp của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) bắt đầu từ những năm 80 và sáng kiến bảo vệ rừng ở châu Mỹ Latinh bắt đầu từ những năm 90.