Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ÐỀ TÀI 1. Một số vấn đề lý luận về trang trại, kinh tế trang trại và kinh tế trang trại trong chăn nuôi 1. Khái niệm * Trang trại (TT): Theo tác giả Nguyễn Đình Hương (2000): “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường. Tác giả Nguyễn Phượng Vỹ cho rằng: “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá".
* Kinh tế trang trại (KTTT): Theo Lê Trọng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hô theo luật định". Tác giả Trần Trác, cho rằng: “Kinh tế trang trại là m’ột hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thủy sản của một nông hộ theo cơ chế thị trường”. Từ rất nhiều các quan điểm của các tác giả ta có thể rút ra những điểm chủng để đưa khái niệm chung về kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông-Lâm- Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là Luan van 6 sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. Đặc trưng của trang trại và kinh tế trang trại * Đặc trưng của trang trại: - Sản xuất hàng hoá là mục đích sản xuất của trang trại.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, đây được coi là đặc điểm cơ bản của trang trại. - Là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá - Các yếu tố vật chất của sản xuất, trướcc hết là ruộng đất và tền vốn trong trang trại được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá. - Hoạt động sản xuất kinh doanh trong trang trại được tự chủ hoàn toàn. - Với môi hình sản xuất kinh doanh này, chủ trang trại phải là người có trình độ, năng lực tổ chức quản lí, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất, kinh doanh.
- Phần lớn các trang trại đều có thuê mướn lao động. - Các chủ trang trại đều có thu nhập cao hơn hẳn so với mức bình quân chăn nuôi theo các mô hình nhỏ lẻ của nông dân trong vùng. * Đặc trưng của kinh tế trang trại: – Trải qua hàng thế kỷ, phát triển kinh tế trang trại thực tế đã chứng minh đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu của thị trường. – Có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bình quân của hộ kinh tế ở từng vùng về các điều kiện sản xuất như đất đai, vốn, lao động.
– Người chủ trang trại cũng là người trực tiếp sản xuất quản lý. – Sản xuất đi vào chuyên môn hoá cao hơn, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, lên giá trị sản phẩm thu nhập và giá trị sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng. Luan van 7 – Các tài sản cũng như sản phẩm thuộc quyền sở hữu gia đình và được pháp luật bảo hộ - Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn là mục đích sản xuất của trang trại. - Có sự tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất như vốn, lao động, đất đai ở mức độ cao hơn hẳn so với sản xuất của nông hộ, vì thế quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá được tạo ra cũng cao hơn hẳn.
- Với kiến thức và kinh nghiệm của bản thân cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, chủ trang trại trực tiếp điều hành sản xuất đạt hiệu quả cao hơn so với kinh tế hộ. Vì thế lao động gia đình được sử dụng hay lao động thuê bên ngoài đều có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. Phân loại trang trại ở Việt Nam Với rất nhiều loại hình trang trại nông, lâm, ngư nghiệp như nhiều nước trên thế giới, để đưa ra những định hướng, giải pháp phù hợp với từng quy mô khác nhau thì việc nghiên cứu, phân tích phải phù hợp với cách thức phân loại. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư liên tịch số69/200 – TTLT/BNN - TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, theo đó thì trang trại được phân theo các hình thức sau: Nếu xét theo tiêu chí thu nhập: các trang trại được phân thànhtrang trại sản xuất và trang trại kinh doanh.
Trong đó đối với trang trại sản xuất phần lớn thu nhập là từ hoạt động sản xuất, trong khi đó trang trại kinh doanh thu nhập chủ yếu từ hoạt động kinh doanh. Theo quy mô đất đai, các trang trại được phân thành quy mô nhỏ, vừa, lớn tương ứng với quy mô đất đai lần lượt là 2-5ha, 5-10 ha và 10-30 ha. Trường hợp trang trại có quy mô lớn vượt quá giới hạn diện tích đất sử dụng lớn hơn 30 ha. Luan van 8 Xét theo tiêu chí cơ cấu sản xuất, trang trại được phân loại thànhtrang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, trang trại chuyên môn hóa.
Trong đó - Trang trại kết hợp của các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau mang tính tổng hợp, sản phẩm làm ra số lượng một loại không lớn nhưng đa dạng về chủng loại được gọi là trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp. - Trang trại chỉ tạo ra một hoặc hai sản phẩm chính như trang trại chuyên chăn nuôi gà, chuyên chăn nuôi gia cầm, trồng cây ăn quả được gọi là trang trại chuyên môn hóa. Phân loại theo hình thức quản lý: - Trang trại hợp doanh theo cổ phần: là trang trại được hoạt động theo nguyên tắc cổ phần, có quy mô lớn, thường thuê lao động. - Trang trại liên doanh là hình thức một số một số chủ hộ có quy mô nhỏ sở hữu các tư liệu sản xuất như đất, vốn, lao động hợp nhất với nhau, để trở thành trang trại có quy mô lớn.
Hoặc các chủ trang trại hợp tác lại với nhau với một thế mạnh của mình để cùng nhau tạo ra một sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường. - Trang trại gia đình là hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Do một chủ hộ đứng ra làm công tác quản lý, độc lập sản xuất, trang trại được thành lập có tư cách pháp nhân và sử dụng phần lớn là lao động gia đình. Phân loại theo mối quan hệ sở hữu và lao động, chia thành trang trại gia đình và trang trại tư bản tư nhân - Người chủ sở hữu trang trại gia đìnhthường cũng là người lao động, họ có thể có hoặc không sử dụng lao động thuê ngoài.
- Người chủ sở hữu trang trại tư bản tư nhân thường không trực tiếp tham gia lao động hoặc có lao động nhưng làm công tác quản lý điều hành, thường sử dụng lao động thuê ngoài là chủ yếu. Trong đề tài, tác giả lựa chọn phân loại trang trại theo tiêu chí quy mô. Theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi, tại Điều 21 quy định quy mô chăn nuôi là: Luan van 9 “- Chăn nuôi trang trại quy mô lớn: Từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên; - Chăn nuôi trang trại quy mô vừa: Từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi; - Chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ: Từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi; - Chăn nuôi nông hộ: Dưới 10 đơn vị vật nuôi”. Đối với chăn nuôi gà công nghiệp hướng thịt thì đơn vị vật nuôi được tính là 200 con/ đơn vị vật nuôi.
Tầm quan trọng của kinh tế trang trại và kinh tế trang trại trong chăn nuôi Một trong những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp chính là chăn nuôi. Ở nước ta, khoảng 30% tổng sản phẩm nông nghiệp được tạo ra bởi kết quả của lĩnh vực này. Sự phát triển của ngành chăn nuôi trước hết sẽ tạo điều kiện thuận lợi để gia tăng giá trị dinh dưỡng và chất lượng bữa ăn, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, nâng cao tầm vóc con người và qua đó nâng cao đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân. Con người được cung cấp các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng thông qua hoạt động của ngành chăn nuôi.
Mặt khác nhu cầu đối với các sản phẩm chăn nuôi cũng ngày càng tăng, cụ thể trong năm 2018, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng thịt lợn 2,2%, đạt 3,8 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng thịt gia cầm 6,5% đạt 1,15 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng của ngành trứng gia cầm là 11% đạt mức 11,8 tỷ quả và ngành sản xuất sữa đạt gần một triệu tấn với tốc độ tăng trưởng là 9%. Ngành chăn nuôi thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến phát triển. Để thực hiện hoạt động tiêu thụ, sản phẩm của ngành chăn nuôi cần được chế biến, vì vậy ngành chăn nuôi phát triển sẽ kéo theo, tạo động lực thúc đẩy phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến. Để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu có giá trị, không thể thiếu được nguyên liệu được cung cấp bởi ngành chăn nuôi.
Ngoài ra, nhiều sản phẩm phụ lò mổ lại trở thành nguyên liệu được sử dụng với nhiều mục đích khác như bào chế thuốc, sản xuất bột máu, bột xương dùng trong chăn nuôi. Luan van 10 Hiện nay, với mức độ phát triển nông nghiệp như ở nước ta mô hình trang trại chủ yếu là trang trại gia đình.