Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 9720701) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lâm, bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2023, mang tên: “Nghiên cứu nhu cầu và đánh giá hiệu quả can thiệp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho trẻ dị tật bẩm sinh tại thành phố Biên Hoà”. Đề tài được hướng dẫn khoa học bởi PGS. Trần Đức Phấn và PGS. Nguyễn Thị Bích Liên.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội nghị Y tế Thế giới lần thứ 66 (năm 2013) ước tính có 93 triệu trẻ em dưới 15 tuổi sống chung với tình trạng khuyết tật mức độ vừa hoặc nặng. Dị tật bẩm sinh (DTBS) chiếm khoảng 3% - 4% dân số toàn cầu, trong đó 2% - 3% trẻ sơ sinh sống mang DTBS nặng. Tại Việt Nam, điều tra phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) năm 2010 cho thấy tỷ lệ khuyết tật chiếm 5% - 7% dân số; trẻ khuyết tật (TKT) chiếm khoảng 40%, trong đó khuyết tật vận động là dạng phổ biến nhất. Tỷ lệ trẻ DTBS tại cộng đồng dao động từ 1,4% đến 3,5%.
Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai là khu vực có sân bay Biên Hoà cũ với mức độ ô nhiễm chất độc hoá học/dioxin đặc biệt cao; nồng độ dioxin trung bình trên lớp đất mặt và bùn vượt mức 1 × 10⁶ ppt (nguy cơ phơi nhiễm cao nhất thế giới). Báo cáo năm 2011 của tỉnh Đồng Nai ghi nhận toàn tỉnh có khoảng 154.000 người khuyết tật (NKT); trong đó TKT từ 0 đến dưới 16 tuổi là 16.374 trẻ (chiếm hơn 10%), và khuyết tật vận động chiếm tới 51%. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quang (2013) tại Biên Hoà xác định nguyên nhân bẩm sinh ở TKT vận động chiếm tỷ lệ 78,5% - 80%, với bại não chiếm tỷ lệ cao nhất (71,9%). Trong khi đó, hệ thống y tế và các trung tâm phục hồi chức năng (PHCN) tập trung tuyến trên mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu thực tế. Trẻ khuyết tật tại các nước thu nhập thấp và trung bình thường bị phát hiện muộn (khi đã 3 - 4 tuổi), làm mất đi giai đoạn can thiệp sớm. Do đó, việc xác định chính xác nhu cầu và triển khai can thiệp PHCNDVCĐ có sự tham gia của gia đình ngay tại cộng đồng ô nhiễm dioxin là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng và nhu cầu phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của trẻ có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh tại thành phố Biên Hoà năm 2015.
- Đánh giá hiệu quả can thiệp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho trẻ bại não có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh tại thành phố Biên Hoà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh sống tại cộng đồng; nhóm can thiệp tập trung vào trẻ bại não có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh và người chăm sóc chính trong gia đình.
- Phạm vi không gian: Triển khai tại địa bàn thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, tập trung khảo sát và can thiệp tại 9 xã/phường (bao gồm phường Bửu Hoà, phường Phước Tân, xã Hoá An cùng 6 xã/phường trọng điểm khác).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn điều tra thực trạng và nhu cầu cắt ngang được tiến hành năm 2015; giai đoạn can thiệp theo dõi thực hiện qua các mốc: tập huấn kỹ thuật, giám sát định kỳ 6 tháng và đánh giá hiệu quả sau 12 tháng tập luyện tại nhà.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong y văn quốc tế, tổng quan của luận án hệ thống các công trình dịch tễ học và can thiệp phục hồi:
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) ghi nhận gánh nặng toàn cầu của khuyết tật trẻ em và nhấn mạnh mô hình can thiệp sớm tại cộng đồng.
- Về nguyên nhân dị tật bẩm sinh và khuyết tật vận động: Các tài liệu dịch tễ học của Peter (giai đoạn 1999 - 2007 tại Texas, Hoa Kỳ) chứng minh can thiệp bổ sung acid folic giúp làm giảm tỷ lệ khuyết tật ống thần kinh. Nghiên cứu của Richard (2010) tại Uganda trên 110.336 trẻ sơ sinh ghi nhận tỷ lệ bàn chân khoèo bẩm sinh là 1,2/1.000 (tỷ lệ nam:nữ là 2,4:1). Wallander (2006) tại Thuỵ Điển và Lynn Ponseti (2005) nghiên cứu kỹ thuật nắn chỉnh bó bột bàn chân khoèo đạt tỷ lệ thành công 90% nếu can thiệp sớm. Maged (2007) chỉ ra nguy cơ bại não ở trẻ cân nặng lúc sinh < 2.500 g cao gấp 3,7 lần so với trẻ trên 2.500 g.
- Về phương pháp lượng giá và can thiệp bại não: Hệ thống phân loại chức năng vận động thô GMFCS (Gross Motor Function Classification System) và thang đo GMFM-66 (Gross Motor Function Measure) được chuẩn hoá bởi nhóm tác giả CanChild (Rosenbaum PL, Walter SD, Hanna SE và cộng sự) đã thiết lập đường cong tăng trưởng vận động chuẩn theo tuổi cho từng mức độ thương tổn. Về hiệu quả trị liệu, phân tích tổng hợp của 34 nghiên cứu (n = 1.332 trẻ) cho thấy tập vận động dựa trên chức năng mang lại kết quả cao hơn phương pháp Bobath truyền thống. Nghiên cứu can thiệp của Gladstone tại các nước đang phát triển và khảo sát dịch tễ tại Bangladesh ghi nhận 78,2% trẻ bại não chưa từng tiếp cận dịch vụ PHCN do gia đình thiếu kiến thức (64,8%) và rào cản chi phí (14,2%).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ về dị tật bẩm sinh và khuyết tật trẻ em được tác giả điểm lại chi tiết:
- Trịnh Văn Bảo và cộng sự (2006) điều tra phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ tại Thanh Khê (Đà Nẵng), Phù Cát (Bình Định) và Thái Bình, ghi nhận tỷ lệ trẻ sinh ra mắc DTBS lần lượt là 1,72%, 1,22% và 0,72%; tiền sử sinh con DTBS ở nhóm phơi nhiễm chất da cam cao hơn rõ rệt. Trần Đức Phấn và cộng sự (2013) ghi nhận tỷ lệ DTBS tại Thanh Khê là 2,44%.
- Đánh giá ảnh hưởng của dioxin tại Biên Hoà trên 217 cặp mẹ con cho thấy phơi nhiễm dioxin chu sinh qua sữa mẹ làm suy giảm chỉ số vận động thô và vận động tổng hợp ở trẻ trai trong 3 năm đầu đời.
- Các khảo sát dịch tễ của Bộ Y tế (2005), Nguyễn Thị Minh Thuý (2006 tại Hoài Đức), Phạm Thị Tỉnh (2012 tại Thái Bình trên 6.744 trẻ), Trần Văn Vương (2015 tại Hạ Hoà - Phú Thọ), Nguyễn Hữu Chút (2017 tại Hoài Đức - Hà Nội) đều khẳng định khuyết tật vận động và dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ hàng đầu trong cộng đồng.
- Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quang (2013) tại thành phố Biên Hoà trên 121 trẻ khuyết tật vận động ghi nhận tỷ lệ dị tật bẩm sinh chiếm 80% (trong đó bại não chiếm 71,9%), người trực tiếp chăm sóc chủ yếu là bố mẹ (64,4%) và ông bà (48,1%).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các tài liệu trước đây đã phản ánh thực trạng dịch tễ học của phơi nhiễm dioxin và tỷ lệ khuyết tật tại Biên Hoà, phần lớn chỉ dừng lại ở các nghiên cứu mô tả cắt ngang hoặc đánh giá can thiệp kỹ thuật đơn thuần tại cơ sở y tế. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện nhu cầu phục hồi theo 23 chỉ số chuẩn của WHO kết hợp mô hình hành vi IMB (Thông tin - Động lực - Kỹ năng ứng xử) nhằm chuyển giao kỹ thuật PHCN cho người nhà trẻ bại não tại hộ gia đình ở địa bàn có nồng độ ô nhiễm dioxin cao, đồng thời áp dụng hai công cụ lượng giá chuẩn mực quốc tế là thang phân loại GMFCS và thang đo GMFM-66 (tính toán cả điểm phần trăm thô và điểm phần trăm tham chiếu theo lứa tuổi) để đo lường tiến triển sau 12 tháng can thiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Phân loại quốc tế về hoạt động chức năng, giảm chức năng và sức khoẻ (ICF): WHO ban hành nhằm nhìn nhận khuyết tật dưới sự tương tác hai chiều giữa tổn thương cấu trúc/chức năng cơ thể, hạn chế hoạt động cá nhân và rào cản tham gia xã hội trong môi trường sống.
- Bảng phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10: Sử dụng nhóm mã từ Q00 đến Q99 để phân định các dị tật, dị dạng và biến dạng bẩm sinh của hệ thần kinh, cơ xương khớp.
- Ma trận Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của WHO: Gồm 5 thành phần chính (Y tế, Giáo dục, Sinh kế, Xã hội, Tăng cường quyền năng); luận án tập trung giải quyết thành phần Y tế kết hợp Giáo dục kỹ năng.
- Mô hình Thông tin - Động lực - Kỹ năng ứng xử (IMB - Information, Motivation, Behavioral Skills Model): Khung can thiệp thay đổi hành vi được khuyến cáo bởi WHO và Bộ Y tế Canada, xem thông tin là điều kiện cần, kết hợp động lực tâm lý - xã hội và huấn luyện kỹ năng thực hành để biến đổi hành vi tập luyện của người chăm sóc tại gia đình.
- Thang phân loại 23 nhu cầu PHCN thiết yếu của WHO (cải biên bởi PGS. Trần Trọng Hải): Đánh giá 3 mức độ độc lập của đối tượng:
- 0 điểm: Tự thực hiện, không có nhu cầu PHCN (Không phụ thuộc).
- 1 điểm: Cần người hỗ trợ mới thực hiện được (Phụ thuộc một phần).
- 2 điểm: Có người hỗ trợ vẫn không thực hiện được (Phụ thuộc hoàn toàn).
- Thang phân loại vận động thô GMFCS và Thang đo GMFM-66:
- GMFCS chia 5 mức độ từ I (nhẹ nhất, đi lại không hạn chế) đến V (nặng nhất, hạn chế vận động tự chủ nghiêm trọng).
- GMFM-66 sử dụng phân tích Rasch gồm 66 mục kiểm tra vận động thô, tính toán điểm tổng phần trăm (%) GMFM-66 và điểm phần trăm tham chiếu (so sánh tương đối với nhóm trẻ bại não cùng độ tuổi và cùng mức độ GMFCS theo bộ chuẩn của CanChild).
Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
Nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Mục tiêu 1): Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành năm 2015 trên toàn bộ trẻ có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh được rà soát tại 9 xã/phường thuộc thành phố Biên Hoà nhằm xác định đặc điểm dịch tễ, tình trạng gia đình, tiền sử khám chữa bệnh và 23 nhu cầu PHCN thiết yếu.
- Giai đoạn 2 (Mục tiêu 2): Thiết kế nghiên cứu can thiệp tiến cứu, so sánh trước - sau can thiệp trên nhóm trẻ bại não có khó khăn vận động do dị tật bẩm sinh và người chăm sóc. Can thiệp triển khai qua 3 bước:
- Bước 1: Tập huấn chuyển giao kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành các bài tập PHCN cho người nhà.
- Bước 2: Giám sát định kỳ 6 tháng việc duy trì tập luyện tại nhà của gia đình kết hợp cán bộ y tế trạm và cộng tác viên.
- Bước 3: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động sau 12 tháng bằng thang đo GMFCS và GMFM-66.
Nguồn tư liệu và công cụ thu thập
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc hóa, phiếu lượng giá 23 nhu cầu PHCN của WHO/Trần Trọng Hải, hồ sơ bệnh án khám lâm sàng và phục hồi chức năng do các chuyên gia y tế (GS. Cao Minh Châu, BS. Nguyễn Thị Lan phối hợp thực hiện), hệ thống bảng điểm và phần mềm tính điểm GMFM-66 theo tuổi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về khuyết tật vận động, phân loại khuyết tật theo Luật Người khuyết tật Việt Nam (chia 6 dạng tật và 3 mức độ: đặc biệt nặng, nặng, nhẹ); định nghĩa dị tật bẩm sinh theo WHO (2010); phân tích các bệnh lý bẩm sinh gây tàn tật nặng nề như bại não, khuyết tật ống thần kinh (nứt đốt sống, não úng thuỷ), bất thường nhiễm sắc thể (hội chứng Down), bệnh lý thoái hoá cơ/loạn dưỡng cơ Duchenne, bàn chân khoèo bẩm sinh và trật khớp háng bẩm sinh. Chương này phân tích chi tiết bản chất của bại não (chiếm 85% - 90% nguyên nhân trước sinh và chu sinh), dấu hiệu nhận biết, phân loại theo thể trương lực cơ (co cứng, loạn vận động/múa vờn, thất điều, giảm trương lực/thể nhẽo) và phân loại theo định khu liệt (liệt tứ chi, liệt 3 chi, liệt 2 chi dưới, liệt nửa người). Tác giả tổng quan ưu thế và nhược điểm của mô hình PHCNDVCĐ; tổng hợp mô hình robot tập đi (Con-trex MJ) tại các nước phát triển đối chiếu với điều kiện nguồn lực hạn chế ở Việt Nam; phân tích chi tiết ứng dụng mô hình IMB trong thay đổi hành vi chăm sóc của gia đình và cơ chế sử dụng bảng điểm phần trăm tham chiếu GMFM-66 theo lứa tuổi.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 9 xã/phường của thành phố Biên Hoà; định nghĩa các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu. Trình bày chi tiết cấu trúc bộ chỉ số nghiên cứu: đặc điểm nhân khẩu học của trẻ và người chăm sóc, điều kiện kinh tế hộ gia đình (chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg và đối chiếu chuẩn nghèo đa chiều Nghị định 07/2021/NĐ-CP), tình hình sử dụng dụng cụ chỉnh hình (nẹp dưới gối AFO, nẹp trên gối KAFO, khung tập đi, ghế bại não). Thiết kế nội dung tập huấn can thiệp dựa trên khung IMB gồm chuyển giao tài liệu hướng dẫn, thực hành mẫu, kiểm tra kiến thức và lượng giá kỹ năng của người nhà trước - sau khóa học. Quy trình giám sát 6 tháng tại nhà được chuẩn hoá biểu mẫu theo dõi tần suất và chất lượng tập luyện. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng dựa trên sự cải thiện mức độ GMFCS, tổng điểm phần trăm GMFM-66 thô và điểm phần trăm tham chiếu sau 12 tháng. Quy trình khống chế sai số, phương pháp phân tích thống kê (tính tỷ suất chênh OR, nguy cơ tương đối RR, kiểm định tham số và phi tham số) cùng các cam kết đạo đức nghiên cứu y sinh học được mô tả rõ ràng.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 tổng hợp toàn bộ số liệu khảo sát thực trạng và đánh giá can thiệp qua các bảng thống kê và biểu đồ:
- Thực trạng và nhu cầu: Số liệu phản ánh sự phân bố của trẻ khuyết tật và trẻ khó khăn vận động do DTBS tại 9 xã/phường; đặc điểm lâm sàng, phân loại thể bệnh bại não theo trương lực cơ và theo vị trí định khu liệt; điều kiện kinh tế gia đình và mức độ trợ giúp xã hội nhận được trong năm trước khảo sát. Ghi nhận tình trạng tiếp cận dịch vụ PHCN trong vòng 1 năm trước can thiệp còn rất thấp; phần lớn các gia đình tập luyện tại nhà tự phát, thiếu kỹ thuật. Nhu cầu hỗ trợ dụng cụ trợ giúp (AFO, KAFO, khung tập đi, ghế bại não) và nhu cầu được tập huấn kỹ thuật tập luyện tại nhà chiếm tỷ lệ áp đảo.
- Kết quả can thiệp theo mô hình IMB: Điểm kiến thức và kỹ năng thực hành bài tập PHCN của người chăm sóc chính sau khóa tập huấn tăng lên rõ rệt so với trước tập huấn. Kết quả giám sát 6 tháng cho thấy phần lớn người nhà duy trì được tần số tập luyện đều đặn tại gia đình và đạt chất lượng động tác từ mức đạt yêu cầu trở lên.
- Hiệu quả phục hồi chức năng sau 12 tháng: Bảng đánh giá phân loại mức độ vận động thô GMFCS lần 1 và lần 2 cho thấy có sự chuyển dịch tích cực về mức độ vận động; tổng điểm % GMFM-66 thô và điểm % tham chiếu theo tuổi của nhóm trẻ bại não sau 12 tháng can thiệp đều tăng có ý nghĩa thống kê. Phân tích các mối liên quan ghi nhận: chất lượng tập luyện của người nhà tại gia đình tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng điểm % tham chiếu GMFM-66 của trẻ; trẻ ở nhóm tuổi nhỏ, mức độ khuyết tật nhẹ hơn và thể liệt hai chi dưới có xu hướng cải thiện điểm vận động thô tốt hơn nhóm liệt cứng tứ chi hoặc mức GMFCS IV - V.
| Nhóm chỉ số theo dõi trong nghiên cứu |
Nội dung và công cụ lượng giá chính |
| Dịch tễ học và lâm sàng |
Phân loại thể trương lực cơ (co cứng, múa vờn, thất điều, nhẽo); định khu liệt (liệt tứ chi, 3 chi, 2 chi dưới, nửa người); nguyên nhân DTBS. |
| Nhu cầu PHCN tại cộng đồng |
23 nhu cầu thiết yếu theo WHO/Trần Trọng Hải (điểm 0, 1, 2); nhu cầu dụng cụ chỉnh hình (AFO, KAFO, khung tập đi, ghế bại não). |
| Năng lực người chăm sóc (Khung IMB) |
Điểm kiến thức chăm sóc; điểm thực hành kỹ thuật bài tập PHCN; tần số và chất lượng tập luyện duy trì tại gia đình trong 6 tháng. |
| Hiệu quả chức năng vận động |
Phân loại mức độ vận động thô GMFCS (mức I đến V); tổng điểm % GMFM-66; điểm % tham chiếu theo lứa tuổi (so sánh với mẫu chuẩn CanChild). |
Chương 4: Bàn luận
Tác giả bàn luận sâu sắc về thực trạng trẻ khó khăn vận động do DTBS tại thành phố Biên Hoà đặt trong bối cảnh phơi nhiễm dioxin tồn lưu tại sân bay Biên Hoà, so sánh với các dữ liệu nghiên cứu của Trịnh Văn Bảo, Trần Đức Phấn và các tác giả quốc tế. Luận án phân tích rào cản kinh tế - xã hội khi tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, kiến thức của gia đình còn hạn chế khiến trẻ bị mất giai đoạn vàng phục hồi sớm. Bàn luận về can thiệp, tác giả khẳng định tính khả thi của mô hình IMB: việc cung cấp thông tin bài bản giúp người nhà có động lực vượt qua mặc cảm, kiên trì tập luyện cho trẻ; việc trang bị kỹ năng trực tiếp giúp người nhà biến việc tập luyện thành hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Bàn luận về kết quả đo lường bằng GMFM-66, tác giả chứng minh rằng việc đánh giá sự thay đổi dựa trên điểm phần trăm tham chiếu có ý nghĩa vượt trội so với điểm thô, vì nó loại trừ được yếu tố tiến triển sinh học tự nhiên theo tuổi của trẻ, phản ánh chính xác hiệu quả can thiệp thực sự của chương trình PHCNDVCĐ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Ứng dụng thành công mô hình hành vi IMB vào PHCNDVCĐ: Luận án là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam ứng dụng mô hình Thông tin - Động lực - Kỹ năng ứng xử (IMB) vào lĩnh vực y tế công cộng và phục hồi chức năng cho trẻ dị tật bẩm sinh tại hộ gia đình. Nghiên cứu đã chứng minh rằng thông tin y học chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp với tạo lập động lực tâm lý và huấn luyện kỹ năng hành vi cụ thể cho người chăm sóc.
- Chuẩn hoá phương pháp lượng giá vận động khách quan tại cộng đồng: Luận án đã áp dụng hệ thống phân loại GMFCS kết hợp thang đo 66 mục GMFM-66, đặc biệt là sử dụng chỉ số điểm phần trăm tham chiếu (Percentile Curves) đối chiếu với mẫu chuẩn quốc tế CanChild. Điều này mang lại cơ sở lý luận khoa học vững chắc để đánh giá hiệu quả can thiệp PHCN vận động cho trẻ bại não, khắc phục tính chủ quan của các phương pháp đánh giá định tính trước đây.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh dịch tễ học chính xác tại vùng phơi nhiễm dioxin: Luận án cung cấp số liệu thực chứng toàn diện về thực trạng, cơ cấu bệnh tật và 23 nhu cầu PHCN thiết yếu của trẻ khó khăn vận động do DTBS tại thành phố Biên Hoà - địa bàn trọng điểm ô nhiễm chất độc hoá học chiến tranh.
- Xây dựng quy trình can thiệp chuyển giao kỹ thuật khả thi, chi phí thấp: Mô hình can thiệp tập huấn kỹ thuật cho người nhà kết hợp mạng lưới giám sát định kỳ của trạm y tế xã/phường chứng minh hiệu quả cải thiện chức năng vận động thô rõ rệt ở trẻ bại não. Mô hình này giúp giảm chi phí điều trị tại viện, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ngành y tế địa phương: Cần nhân rộng mô hình can thiệp PHCNDVCĐ dựa trên khung IMB tại toàn bộ các xã, phường của thành phố Biên Hoà và tỉnh Đồng Nai; đưa hoạt động rà soát, phát hiện sớm và can thiệp sớm dị tật bẩm sinh vào chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu thường quy của trạm y tế.
- Hỗ trợ chính sách và an sinh xã hội: Cần có chính sách cung cấp, tài trợ các dụng cụ chỉnh hình thiết yếu (nẹp AFO, nẹp KAFO, khung tập đi, ghế bại não) cho trẻ khuyết tật trong diện hộ nghèo; đẩy mạnh thành phần Giáo dục và Sinh kế trong Ma trận PHCNDVCĐ để hỗ trợ toàn diện cho gia đình trẻ.
- Đào tạo và chuyển giao: Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở và cộng tác viên y tế thôn bản về kỹ năng lượng giá và hướng dẫn gia đình tập luyện phục hồi chức năng vận động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu mới chỉ tập trung triển khai can thiệp tại 9 xã/phường của thành phố Biên Hoà, chưa mở rộng ra toàn bộ các địa phương khác thuộc tỉnh Đồng Nai.
- Phân nhóm can thiệp: Luận án tập trung đánh giá can thiệp chuyên sâu trên nhóm trẻ bại não có khó khăn vận động do DTBS; các dạng dị tật bẩm sinh khác (như dị tật ống thần kinh đơn thuần, bất thường nhiễm sắc thể, bệnh lý cơ) chưa được đánh giá hiệu quả can thiệp vận động một cách riêng biệt.
- Thời gian theo dõi: Thời gian theo dõi đánh giá hiệu quả sau can thiệp dừng lại ở mốc 12 tháng; chưa có điều kiện theo dõi tiến triển vận động dài hạn suốt quá trình trưởng thành của trẻ. Quá trình triển khai thực địa gặp nhiều cản trở khách quan do tác động của đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế gia đình.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng can thiệp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho các nhóm dị tật bẩm sinh khác và tại các vùng có nguy cơ phơi nhiễm dioxin lân cận.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập (longitudinal cohort) từ 3 đến 5 năm để đánh giá mức độ duy trì chức năng vận động thô và khả năng hòa nhập học đường của trẻ bại não sau can thiệp.
- Nghiên cứu kết hợp can thiệp vận động với can thiệp ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu và giáo dục đặc biệt nhằm đáp ứng toàn diện các nhu cầu trong ma trận PHCNDVCĐ của WHO.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng và Phục hồi chức năng có thể tham khảo thiết kế can thiệp cộng đồng kết hợp mô hình hành vi IMB, quy trình quản lý sai số và kỹ thuật phân tích số liệu dịch tễ học can thiệp.
- Giảng viên và cán bộ giảng dạy: Tài liệu hữu ích trong giảng dạy các môn học Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Quản lý y tế, Sức khoẻ môi trường và Dịch tễ học lâm sàng; cung cấp ví dụ thực tiễn về ứng dụng thang đo GMFM-66 và GMFCS.
- Bác sĩ và kỹ thuật viên phục hồi chức năng: Tham khảo chi tiết hệ thống chỉ định dụng cụ trợ giúp (nẹp AFO, KAFO, khung tập đi, ghế bại não) và quy trình chuyển giao kỹ thuật tập vận động cho người nhà người bệnh tại tuyến cơ sở.
- Nhà quản lý y tế và người làm chính sách: Cung cấp bằng chứng thực tế vững chắc về hiệu quả của mô hình PHCNDVCĐ chi phí thấp, làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động hỗ trợ người khuyết tật và nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại lựa chọn địa bàn thành phố Biên Hoà để triển khai nghiên cứu can thiệp PHCNDVCĐ?
Trả lời: Thành phố Biên Hoà là nơi có sân bay Biên Hoà cũ với mức độ ô nhiễm dioxin trên lớp đất mặt và bùn vượt mức 1 × 10⁶ ppt, cao nhất thế giới. Dữ liệu dịch tễ học năm 2011 của tỉnh Đồng Nai ghi nhận 16.374 trẻ khuyết tật, trong đó khuyết tật vận động chiếm 51%. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quang (2013) tại Biên Hoà cho thấy nguyên nhân dị tật bẩm sinh chiếm tới 80% (trong đó bại não chiếm 71,9%). Trong khi hệ thống bệnh viện chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu điều trị, việc triển khai can thiệp tập luyện tại gia đình ở địa bàn này là đòi hỏi cấp bách và mang tính nhân văn sâu sắc.
2. Mô hình can thiệp IMB được luận án áp dụng như thế nào trong chương trình phục hồi chức năng tại nhà?
Trả lời: Mô hình IMB gồm 3 thành tố tương tác: (1) Thông tin: Cung cấp kiến thức chuẩn xác về nguyên nhân, tiến triển bệnh và nguyên lý PHCN cho gia đình trẻ; (2) Động lực: Tác động nâng cao nhận thức, giải tỏa mặc cảm tự ti của cha mẹ và huy động sự đồng cảm, hỗ trợ từ mạng lưới y tế xã phường; (3) Kỹ năng ứng xử: Trực tiếp tập huấn thực hành cầm tay chỉ việc các kỹ thuật vận động trị liệu, giúp người nhà thành thạo bài tập và duy trì đều đặn việc tập luyện cho trẻ tại nhà.
3. Thang đo GMFM-66 và điểm phần trăm tham chiếu có vai trò gì trong việc đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng của trẻ bại não?
Trả lời: Thang GMFM-66 gồm 66 mục đo lường vận động thô được xử lý qua phân tích Rasch. Thay vì chỉ sử dụng tổng điểm phần trăm thô (vốn bị nhiễu do trẻ lớn lên theo tự nhiên), luận án sử dụng điểm phần trăm tham chiếu (Percentile Curves của CanChild). Điểm tham chiếu này so sánh năng lực vận động của trẻ với nhóm trẻ bại não chuẩn có cùng độ tuổi và cùng mức phân loại GMFCS, từ đó cho phép khẳng định chính xác mức độ tiến bộ vận động đạt được là do hiệu quả can thiệp tập luyện mang lại.
4. Khảo sát 23 nhu cầu PHCN thiết yếu của WHO/Trần Trọng Hải trong luận án tập trung vào những khía cạnh nào?
Trả lời: Khảo sát lượng giá 23 hoạt động sinh hoạt cơ bản của trẻ chia theo 3 mức độ (0: Không phụ thuộc, 1: Phụ thuộc một phần, 2: Phụ thuộc hoàn toàn). Kết quả cho thấy nhóm trẻ có khó khăn vận động do DTBS tại Biên Hoà phụ thuộc rất nặng nề vào người khác trong các nhu cầu: tự làm vệ sinh cá nhân, đại tiểu tiện, đi lại trong nhà, đi lại ngoài làng/xã, tham gia vui chơi và học tập. Từ đó, luận án xác định nhu cầu PHCN vận động, sinh hoạt hàng ngày và hỗ trợ dụng cụ chỉnh hình (AFO, KAFO, khung tập đi, ghế bại não) là các nhu cầu cấp thiết hàng đầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lâm là công trình y tế công cộng hoàn chỉnh, phản ánh bức tranh thực trạng khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng thiết yếu của trẻ dị tật bẩm sinh tại vùng trọng điểm ô nhiễm dioxin thành phố Biên Hoà. Thông qua việc thiết kế và thực thi quy trình can thiệp dựa vào cộng đồng theo khung lý thuyết IMB, luận án đã chứng minh tính hiệu quả và tính khả thi của giải pháp chuyển giao kỹ thuật tập luyện cho người nhà kết hợp giám sát y tế cơ sở. Việc chuẩn hoá công cụ đo lường bằng hệ thống GMFCS và thang điểm phần trăm tham chiếu GMFM-66 đem lại giá trị học thuật tin cậy, đóng góp bằng chứng thực tiễn quan trọng cho công tác chăm sóc, phục hồi và nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ bại não tại Việt Nam.