Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam 1. Đặc điểm chung về bệnh sốt rét Khái quát về bệnh sốt rét Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium ở ngƣời gây nên. Bệnh lây theo đƣờng máu, chủ yếu do muỗi Anopheles truyền.
Bệnh biểu hiện bằng những cơn sốt rét với ba triệu chứng cơ bản: rét run, sốt, vã mồ hôi. Ở ngƣời, bệnh tiến triển có chu kỳ và có hạn định nếu không bị tái nhiễm, KSTSR gây miễn dịch đặc hiệu nhƣng không bền vững. Bệnh lƣu hành ở từng địa phƣơng, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch. Bệnh có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống đƣợc [4].
Dịch tễ học về bệnh sốt rét Bệnh sốt rét lƣu hành chủ yếu ở các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới. KSTSR có thể gây nên bệnh sốt rét cho con ngƣời ở tất cả các nhóm tuổi và đƣợc truyền từ ngƣời bệnh sang ngƣời lành qua trung gian truyền bệnh là muỗi Anopheles. Có 5 loài KSTSR gây bệnh ở ngƣời gồm: P. Bệnh sốt rét tồn tại và lan truyền đƣợc phải có đầy đủ 3 yếu tố: mầm bệnh (ký sinh trùng); trung gian truyền bệnh (muỗi sốt rét); khối cảm thụ (con ngƣời).
Để một ngƣời bị mắc sốt rét đòi hỏi ngƣời đó phải bị muỗi có mang thoa trùng đốt hay nói cách khác ngƣời đó phải có cơ hội tiếp xúc với muỗi truyền bệnh sốt rét. Một khi đã mắc bệnh sốt rét, biểu hiện nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào tình trạng miễn dịch với sốt rét ở ngƣời đó. Sự tiếp xúc giữa muỗi Anopheles và ngƣời tùy thuộc vào nghề nghiệp và các hoạt động kinh tế. Các nghề khai thác lâm thổ sản, xây dựng công trình 5 thủy lợi, thủy điện, xí nghiệp, nhà máy tại các vùng sốt rét lƣu hành,…làm tăng nguy cơ tiếp xúc giữa con ngƣời và véc tơ truyền bệnh; cấu trúc nhà cửa sẽ ảnh hƣởng đến việc trú đậu của muỗi sốt rét.
Nhà cửa của các đồng bào dân tộc ít ngƣời, của những ngƣời đi kinh tế mới, lán trại của công nhân thƣờng rất tạm bợ là điều kiện gia tăng tiếp xúc với muỗi sốt rét; chiến tranh làm thay đổi cảnh quan, gia súc chết nhiều dẫn đến thay đổi ái tính của muỗi đƣa đến tăng đốt ngƣời. Tình trạng miễn dịch: ngƣời có miễn dịch tự nhiên với các loài Plasmodium của chim, bò sát và gặm nhấm; một số ngƣời mang hemoglobin S cũng có miễn dịch tự nhiên với P. falciparum, các hemoglobin F, hemoglobin C đồng hợp tử cũng dự phần vào miễn dịch tự nhiên này. Ngƣời có nhóm máu Duffy không bị nhiễm P.
vivax mà chỉ nhiễm P. Miễn dịch mắc phải trong sốt rét đƣợc hình thành do cơ chế tế bào và cơ chế thể dịch, đặc hiệu với từng giai đoạn phát triển của KSTSR trong cơ thể ngƣời và muỗi nhƣ thoa trùng, thể vô tính trong máu, thể hữu tính. Miễn dịch tăng dần theo tuổi và không có tính bền vững, điều này giải thích một phần tính chu kỳ của các vụ dịch sốt rét hay các đợt sốt rét quay trở lại ở một vùng sốt rét lƣu hành nào đó. Tình hình sốt rét trên thế giới Theo thống kê cho thấy sau 36 năm tiến hành thanh toán và PCSR (1955 - 1991) trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỷ ngƣời sống trong vùng SR (gần 50% dân số thế giới) ở 100 nƣớc, tử vong do SR hàng năm từ 1 đến 2 triệu ngƣời, số mắc SR mới hàng năm là 110 triệu ngƣời (Lê Xuân Hùng, 2010) [3].
Theo số liệu thống kê của WHO đến năm 2009, bệnh sốt rét vẫn lƣu hành ở 108 quốc gia. Ƣớc tính có khoảng 225 triệu ngƣời mắc và 781 nghìn ngƣời tử vong do SR, riêng châu Phi chiếm 91%. Tuy vậy SR vẫn còn là một bệnh có mức lƣu hành cao, gây tỷ lệ mắc và tử vong cao ở nhiều quốc gia trên 6 thế giới và trong khu vực. Theo WHO năm 2010 có 231 triệu trƣờng hợp mắc SR trong đó có khoảng 80% số ca mắc chỉ trong 17 quốc gia, 660.000 trƣờng hợp tử vong trong đó 80% số ca chết chỉ trong 14 quốc gia [31].
Theo thông báo của WHO năm 2014, bệnh sốt rét lan truyền tại 97 quốc gia, vùng lãnh thổ ở các khu vực trên thế giới, trong năm 2013 có 198 triệu ca mắc SR xảy ra trên toàn cầu và 584.000 trƣờng hợp tử vong, với 90% số ca tử vong xảy ra tại khu vực châu Phi, tiếp theo là 7% tại khu vực Đông Nam Á và 2% tại khu vực Địa Trung Hải. Trong đó số trẻ em dƣới 5 tuổi chết do SR khoảng 453.000 trƣờng hợp chiếm tỷ lệ 78% số ca tử vong trên toàn thế giới. Theo WHO ƣớc tính có khoảng 3,3 tỷ ngƣời trên toàn cầu sống trong vùng SRLH, riêng khu vực châu Á, Thái Bình Dƣơng có gần 2 tỷ ngƣời [32]. Cũng theo WHO tại khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, hiện nay có 10 quốc gia có SRLH bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Papua New Guinea, Philippines, Triều Tiên, đảo quốc Solomon, Vanuatu và Việt Nam.
Tại khu vực này có khoảng 870 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng bởi SR, trong đó 60 triệu ngƣời sống trong vùng có chỉ số mắc SR >1/1. Ba quốc gia có SRLH nặng nhất là Papua New Guine (75%), Campuchia (26%) và đảo Solomon (12%) [32]. Trên toàn cầu, tỷ lệ tử vong liên quan SR giảm 62% từ năm 2000 đến 2015 và 29% từ năm 2010 đến 2015. Ở trẻ em dƣới 5 tuổi nó đã giảm 69% từ năm 2000 đến 2015 và 35% từ 2010 đến 2015 [4].
Năm 2018, ƣớc tính có 228 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét, 405.000 ca tử vong trên toàn thế giới so với 435.000 trƣờng hợp tử vong năm 2017 và 607. Mƣời chín quốc gia ở châu Phi cận Sahara và Ấn Độ mang gần 85% gánh nặng sốt rét toàn cầu. Sáu quốc gia chiếm hơn một nửa số ca SR trên toàn thế giới: Nigeria (25%), Cộng hòa Dân chủ Congo (12%), Uganda (5%) và Côte d'Ivoire, Mozambique và Nigeria (mỗi nƣớc 4%). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm trên toàn cầu từ năm 2010 đến 2018, từ 7 71 đến 57 trƣờng hợp trên 1000 dân số có nguy cơ.
Tuy nhiên, từ năm 2014 đến 2018, tốc độ thay đổi đã chậm lại đáng kể, giảm xuống còn 57 trƣờng hợp vào năm 2014 và duy trì ở mức tƣơng tự cho đến năm 2018. falciparum chiếm ƣu thế ở các khu vực: châu Phi chiếm 99,7%, khu vực Đông Địa Trung Hải chiếm 71% và Tây Thái Bình Dƣơng chiếm 65%. Có 53% tổng số trƣờng hợp bệnh sốt rét do P. vivax xảy ra tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á, chủ yếu tại Ấn Độ (47%).
Tại châu Mỹ, 75% tổng số các trƣờng hợp sốt rét là do P. Từ năm 2015 - 2018, có 31 nƣớc có lƣu hành sốt rét giảm đáng kể số trƣờng hợp mắc bệnh và đang trên đà giảm tỷ lệ mắc bệnh từ 40% trở lên vào năm 2020 [34]. Mạng lƣới loại trừ SR đang mở rộng và duy trì trên toàn cầu, nhiều quốc gia đang dần hƣớng tới không có các trƣờng hợp KSTSR nội địa, trong đó nhiều quốc gia đã đƣợc công nhận loại trừ SR. Năm 2018, Paraguay và Uzbekistan đã đƣợc WHO chứng nhận là không có SR.
Algeria, Argentina đƣợc chứng nhận không có SR vào đầu năm 2019. Trung Quốc, Iran, Malaysia, Đông Timor và EI Salvador đã báo cáo không có trƣờng hợp sốt rét nội địa năm 2018 [11]. Số ca mắc SR theo các khu vực giai đoạn 2010 - 2018 Ƣớc tính số ca mắc ( đơn vị tính: 1000 ca) Khu vực 2010 2012 2014 2016 2017 2018 Châu Phi 218.000 Châu Mỹ 814 580 477 691 944 929 Địa Trung Hải 4.900 Tây Thái Bình 1.980 Dƣơng Toàn thế giới 231. Tình hình sốt rét trên phạm vi toàn cầu.
Tình hình sốt rét ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có chƣơng trình phòng chống SR thành công, đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn trong công tác phòng chống SR từ năm 1991 khi chuyển từ chƣơng trình tiêu diệt SR sang phòng chống SR. SR đã giảm mạnh, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố trong một vài năm gần đây đã không ghi nhận trƣờng hợp mắc SR tại địa phƣơng. Số vụ dịch SR giảm dần, năm 2010 không có dịch SR xảy ra trong cả nƣớc. Năm 2010, toàn quốc ghi nhận 20 ngƣời chết do SR, 53.876 trƣờng hợp mắc SR.
Tỷ lệ chết do SR/100.000 dân là 0,02, giảm 89,5% và giảm 99,7%; tỷ lệ mắc SR/1.000 dân là 0,61, giảm 84,1% và giảm 96,4% so với năm 2000 và năm 1991. Đã có 28 tỉnh miền Bắc và Nam Bộ trong 10 năm (2001 - 2009) giảm số mắc và không có tử vong do SR và 6 tỉnh không có tử vong do SR 4 năm (2006 - 2010). Từ 2009 - 2013 có 54 trƣờng hợp TVSR, tuy nhiên số trƣờng hợp tử vong do SR giảm dần hàng năm từ 2009 tới nay. Năm 2013 toàn quốc có 6 trƣờng hợp tử vong do SR xảy ra tại 6 tỉnh, trong đó chỉ có 4 trƣờng hợp ở các tỉnh dự 9 án gồm: Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Bình Phƣớc giảm 80% (4/20) so với năm 2008.
Trong đó có 2 tỉnh có nhiều bệnh nhân tử vong là Bình Phƣớc hàng năm đều có bệnh nhân tử vong với tổng số 13 trƣờng hợp và tỉnh Gia Lai có 4 năm đã xảy ra tử vong với tổng số 8 trƣờng hợp. Có 14 tỉnh không để xảy ra trƣờng hợp tử vong nào [10]. Tình hình sốt rét cả nƣớc giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy tổng số bệnh nhân SR là 171. Trong đó năm 2011 chiếm tỷ lệ cao nhất 26,53% (45.831), tiếp theo năm 2012 chiếm 25,44%, bệnh nhân có chiều hƣớng giảm rõ rệt đến năm 2015 chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,2% (19.
Theo báo cáo của Viện Sốt rét-KST-CT Trung ƣơng, năm 2019 cả nƣớc có 5.870) so với năm 2018, KSTSR giảm 3.813), tỷ lệ KSTSR/1.000 dân giảm 4%, bệnh nhân SRAT không tăng (12/12) so với năm 2018. Không có trƣờng hợp tử vong do sốt rét. Các tỉnh có bệnh nhân SRAT cao nhất thuộc vùng sốt rét lƣu hành nặng nhƣ Phú Yên, Bình Thuận, Gia Lai, Đắk Lắk. Số bệnh nhân có KSTSR là 4.