Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một trong những công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trọng yếu của ngân hàng trung ương (NHTW) nhằm đạt được các mục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong các kênh truyền tải tác động của CSTT (bao gồm kênh lãi suất, kênh tỷ giá, kênh tín dụng và kênh giá tài sản), kênh lãi suất giữ vai trò nền tảng và truyền thống, phản ánh cơ chế mà qua đó lãi suất điều hành của NHTW tác động lan truyền đến lãi suất thị trường, từ đó chi phối hành vi chi tiêu, đầu tư của các chủ thể kinh tế và tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.

Tại Việt Nam, việc chuyển đổi cơ chế điều hành CSTT theo hướng thị trường đặt ra yêu cầu đánh giá thực chứng về mức độ, chiều hướng và tốc độ truyền dẫn từ các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tới lãi suất thị trường và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Trước yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Thanh Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Đánh giá hiệu lực của cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất tại Việt Nam".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua bốn nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất.
  2. Phân tích thực trạng cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016.
  3. Đánh giá định lượng hiệu lực của cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất tại Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng.
  4. Đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của cơ chế truyền dẫn CSTT thông qua kênh lãi suất tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về hiệu lực cơ chế truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất và thực trạng vận hành của kênh truyền dẫn này tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ Quý 1/2008 đến Quý 4/2016 (Q1/2008 – Q4/2016).
  • Nguồn dữ liệu: Chuỗi số liệu thống kê được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF - nguồn International Financial Statistics), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và các báo cáo, văn bản quy phạm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết tiền tệ kinh điển và mô hình truyền dẫn kinh tế vĩ mô:

  • Khái niệm và định hướng chính sách tiền tệ: Tác giả tiếp cận định nghĩa của Yeyati và Sturzenegger (2010), coi CSTT là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ nhằm hướng tới một mức lãi suất mong muốn để đạt mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Chính sách được phân định thành hai trạng thái: mở rộng (tăng cung tiền, hạ lãi suất) và thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất).
  • Cấu trúc mục tiêu CSTT: Vận dụng khung lý thuyết của Frederic S. Mishkin (2013), mô tả mối quan hệ thứ bậc giữa: công cụ điều hành (nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc), mục tiêu hoạt động (dự trữ, lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng), mục tiêu trung gian (mức cung tiền M1, M2 hoặc lãi suất ngắn/dài hạn) và mục tiêu cuối cùng (ổn định giá cả, việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, lãi suất và ngoại hối).
  • Cơ chế truyền dẫn kênh lãi suất theo trường phái Keynes: Mô hình IS-LM mô tả quy trình: $M \uparrow \Rightarrow i_r \downarrow \Rightarrow (I + C) \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$, trong đó sự mở rộng cung tiền làm giảm lãi suất thực ($i_r$), hạ thấp chi phí vốn và kích thích chi tiêu tiêu dùng ($C$) cùng đầu tư ($I$), qua đó mở rộng sản lượng ($Y$). Quá trình này diễn ra qua hai giai đoạn: (1) từ công cụ điều hành tác động tới lãi suất thị trường (lãi suất tiền gửi và cho vay), và (2) từ lãi suất thị trường chi phối đầu tư, tiêu dùng, tác động đến tổng cầu và các biến số lạm phát, tăng trưởng.
  • Các kênh truyền dẫn bổ trợ: Kênh giá tài sản (kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá cổ phiếu dựa trên lý thuyết Q của Tobin, kênh thu nhập thường xuyên) và kênh tín dụng (hoạt động cho vay của hệ thống NHTM và điều chỉnh bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp).
  • Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu lực truyền dẫn: Tác giả hệ thống hóa 4 nhóm nhân tố cản trở hoặc làm biến dạng truyền dẫn: (i) Tính độc lập của NHTW trong điều hành CSTT (theo King Banaian, đặc biệt là sự độc lập về chính sách so với chính sách tài khóa); (ii) Tình trạng đô la hóa nền kinh tế (theo tiêu chuẩn IMF khi tiền gửi ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên); (iii) Mức độ phát triển của thị trường tài chính; (iv) Mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, so sánh, phân tích và tổng hợp để đánh giá diễn biến điều hành CSTT qua các văn bản pháp luật (Luật NHNN Việt Nam 1997, Luật NHNN Việt Nam 2010, Thông tư 02/2011/TT-NHNN) và các chỉ tiêu thực tế.
  • Phương pháp định lượng:
    • Khóa luận sử dụng mô hình Vector Tự hồi quy (VAR) dạng rút gọn thay vì phương pháp hồi quy tuyến tính cổ điển (OLS), nhằm ghi nhận mối quan hệ tương tác hai chiều và xác định độ trễ giữa các biến nội sinh.
    • Bộ dữ liệu gồm 5 chuỗi thời gian giai đoạn Q1/2008 – Q4/2016: Lãi suất tái chiết khấu (LSTCK - đại diện lãi suất điều hành), Lãi suất cho vay bình quân (LSCV BQ - đại diện lãi suất thị trường), Mức tăng trưởng cung tiền M2 (logarit hóa), Tốc độ tăng trưởng GDP và Lạm phát.
    • Quy trình ước lượng trên phần mềm EViews bao gồm: kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller (ADF) xác nhận các chuỗi dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1 ($I(1)$); kiểm định lựa chọn độ trễ tối ưu thông qua 5 tiêu chuẩn (AIC, SC, HQ, LR, FPE); và phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions - IRF) theo phân rã Cholesky để đo lường phản ứng của các biến vĩ mô trước cú sốc lãi suất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu lực cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý thuyết chuẩn mực về CSTT và phân tích bản chất hai giai đoạn của kênh truyền dẫn lãi suất. Tác giả làm rõ cơ chế tác động của các công cụ trực tiếp (khung lãi suất, hạn mức tín dụng) và công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thị trường mở OMO) đến thanh khoản và lãi suất liên ngân hàng.

Nội dung chương phân tích sâu sự đánh đổi giữa các mục tiêu vĩ mô (giữa kiểm soát lạm phát và giảm thất nghiệp, giữa ổn định cung tiền và biến động lãi suất). Bên cạnh đó, tác giả phân tích bốn rào cản làm suy giảm hiệu lực truyền dẫn tại các nền kinh tế đang phát triển: việc thiếu vắng tính độc lập của NHTW dẫn đến xung đột với chính sách tài khóa; tình trạng đô la hóa làm sai lệch khả năng đo lường cung tiền M2; sự kém phát triển của thị trường liên ngân hàng; và mức độ cạnh tranh thấp giữa các tổ chức tín dụng. Cuối chương, tác giả so sánh mô hình OLS và mô hình VAR, luận giải tính thích hợp của cấu trúc VAR trong việc đo lường độ trễ và tác động phản hồi của chính sách tiền tệ.

Chương 2: Thực trạng về hiệu lực cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất tại Việt Nam

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng điều hành CSTT của NHNN Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016, chia thành hai giai đoạn rõ rệt gắn với khuôn khổ pháp lý:

  • Giai đoạn 2008 – 2010 (theo Luật NHNN 1997 - điều hành đa mục tiêu): CSTT có sự biến động lớn giữa thắt chặt và nới lỏng. Đầu năm 2008, NHNN thắt chặt mạnh: nâng lãi suất cơ bản lên 14%, LSTCV lên 15%, LSTCK lên 13%, phát hành bắt buộc 20.300 tỷ đồng tín phiếu. Tháng 5/2008 bùng nổ cuộc đua lãi suất, lãi suất liên ngân hàng qua đêm lên 18%, lãi suất huy động dân cư lên 19-20%/năm. Nửa cuối 2008 đến 2009, trước suy thoái kinh tế toàn cầu, chính sách chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ: hạ LSCB về 7%, LSTCV về 8%, LSTCK về 6%, triển khai gói hỗ trợ lãi suất làm tín dụng năm 2009 tăng 37,5%. Năm 2010 tiếp tục biến động: nới lỏng nửa đầu năm khiến tín dụng 6 tháng cuối năm tăng 18%, cả năm tăng 31,2%, dẫn tới lạm phát bùng phát trở lại.
  • Giai đoạn 2011 – 2016 (theo Luật NHNN 2010 - ưu tiên kiểm soát lạm phát): Năm 2011, NHNN thắt chặt tiền tệ quyết liệt: tăng LSTCK lên 13%, LSTCV lên 16%, hút ròng qua OMO. Thông tư 02/2011/TT-NHNN áp trần lãi suất huy động VND 14%/năm, nhưng lạm phát thực tế lên 18,13% (bình quân 18,58%) khiến lãi suất thực âm, các NHTM "xé rào" huy động 17-18%/năm và lãi suất cho vay bình quân lên 18,74%/năm. Từ năm 2012 đến 2016, NHNN chuyển sang nới lỏng thận trọng kết hợp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: cắt giảm liên tiếp LSTCK xuống 4,5% và LSTCV xuống 6,5% vào năm 2016; dỡ bỏ trần lãi suất cho tiền gửi trên 6 tháng.

Dưới đây là bảng tổng hợp biến động giữa mục tiêu và thực tế của mức cung tiền và tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2007 – 2010 theo số liệu của NHNN:

Chỉ tiêu (% thay đổi) Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Mức cung tiền M2 (Kế hoạch) 20 – 23% 32% 18 – 20% 25%
Mức cung tiền M2 (Thực hiện) 46,1% 20,3% 29,0% 33,3%
Tăng trưởng tín dụng (Kế hoạch) 17 – 21% 30% 21 – 23% 25%
Tăng trưởng tín dụng (Thực hiện) 53,9% 25,4% 37,5% 31,2%

Ở phần thực nghiệm mô hình VAR, tác giả thực hiện kiểm định tính dừng và xác định độ trễ tối ưu:

  • Kiểm định ADF cho thấy chuỗi dữ liệu gốc không dừng ở mức ý nghĩa 5%, nhưng chuỗi sai phân bậc 1 của tất cả các biến đều dừng.
  • Cấu trúc độ trễ tối ưu được xác định là 4 ($p = 4$) dựa trên đồng thuận của cả 5 tiêu chuẩn thống kê (AIC, LR, FPE, SC, HQ).
  • Kết quả đồ thị hàm phản ứng xung (IRF) phản ánh:
    1. LSTCK tác động cùng chiều đến LSCV bình quân của các NHTM. Phản ứng diễn ra yếu ở quý đầu tiên, nhưng từ quý thứ 3 trở đi tác động bộc lộ rất rõ nét, thể hiện tính định hướng có độ trễ của NHNN.
    2. LSTCK tác động ngược chiều mạnh mẽ tới lạm phát. Sự thắt chặt lãi suất tác động đến CPI ngay sau quý 1 và kéo giảm lạm phát mạnh nhất trong khoảng thời gian từ 2,5 đến 3 quý (tương đương 5 đến 6 tháng), sau đó tác động suy giảm dần.

Chương 3: Khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất tại Việt Nam

Dựa trên mục tiêu định hướng điều hành CSTT đến năm 2020 và kết quả thực nghiệm, chương 3 đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ theo kênh lãi suất: Chuyển đổi phương thức điều hành từng bước từ kiểm soát khối lượng (hạn mức tín dụng) sang kiểm soát giá (lãi suất); xây dựng lãi suất thị trường liên ngân hàng ngắn hạn làm lãi suất mục tiêu hoạt động để dẫn dắt toàn bộ hệ thống lãi suất thị trường.
  2. Lựa chọn các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ phù hợp với từng giai đoạn: Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền theo Luật NHNN 2010; hạn chế việc thay đổi đột ngột giữa mục tiêu kích thích tăng trưởng và kiềm chế lạm phát trong ngắn hạn.
  3. Tiếp tục triển khai các biện pháp hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế và thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt hơn: Kiên trì trần lãi suất tiền gửi USD 0%, kiểm soát cho vay ngoại tệ, chuyển quan hệ huy động - cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua - bán để loại bỏ sự chuyển dịch vốn sang ngoại tệ khi lãi suất nội tệ tăng.
  4. Hoàn thiện thị trường tài chính: Tái cơ cấu hệ thống các TCTD, xử lý nợ xấu để khơi thông dòng vốn tín dụng; phát triển thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu nhằm đa dạng hóa hàng hóa tài chính và tăng cường tính nhạy cảm của lãi suất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu thực chứng của giai đoạn 2008 – 2016:

  • Lượng hóa sự truyền dẫn và độ trễ chính sách: Kết quả mô hình VAR xác lập bằng chứng thực nghiệm cho thấy lãi suất tái chiết khấu tác động cùng chiều đến lãi suất cho vay bình quân với độ trễ phản ứng khoảng 3 quý; đồng thời việc tăng lãi suất có hiệu lực kiềm chế lạm phát nhanh hơn, phát huy tác dụng rõ rệt nhất trong khoảng 2,5 – 3 quý (khoảng 5 đến 6 tháng).
  • Phản ánh thực trạng biến động kinh tế vĩ mô: Nghiên cứu tổng hợp các dữ kiện lịch sử cho thấy mức độ biến động mạnh của lạm phát (đỉnh điểm 19,9% năm 2008 và 18,13% năm 2011; giảm sâu xuống 0,63% năm 2015 và phục hồi về 4,74% năm 2016); sự suy giảm tăng trưởng tín dụng xuống mức 8,9% năm 2012 do năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp và nợ xấu ngân hàng, trước khi phục hồi về mức 18,79% năm 2016.
  • Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:
    • Khóa luận hệ thống hóa lý thuyết truyền dẫn tiền tệ và bổ sung bằng chứng thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.
    • Phân tích chỉ ra các hạn chế cố hữu của hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu: sự phân hóa thanh khoản dẫn đến cuộc đua lãi suất, tình trạng xé rào trần lãi suất, sự thiếu bình đẳng trong cạnh tranh giữa các NHTM quy mô lớn và nhỏ, cùng tác động cản trở của tình trạng đô la hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Hạn chế về chuỗi dữ liệu: Do số liệu thống kê về một số công cụ điều hành không đầy đủ và liên tục, tác giả chỉ sử dụng lãi suất tái chiết khấu (LSTCK) làm biến đại diện duy nhất cho lãi suất điều hành, chưa thể đưa đồng thời các biến số lãi suất thị trường mở (OMO) hay lãi suất tái cấp vốn vào kiểm định đa biến.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu dừng lại ở Quý 4/2016, chưa phản ánh được hiệu quả của cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm mới và tiến trình áp dụng các chuẩn mực an toàn vốn Basel II sau năm 2016.
  • Mức độ tổng hợp dữ liệu: Nghiên cứu dựa trên số liệu cấp độ vĩ mô toàn ngành, chưa bóc tách và so sánh tính bất đối xứng trong phản ứng lãi suất giữa nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng chuỗi số liệu thời gian sau năm 2016; tích hợp đồng thời nhiều kênh truyền dẫn (kênh lãi suất kết hợp kênh tỷ giá và kênh tín dụng) thông qua các mô hình kinh tế lượng cấu trúc dạng SVAR hoặc TVP-VAR.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Thảo mang lại giá trị tham khảo cụ thể:

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học vĩ mô và Kinh tế đầu tư; các nhà nghiên cứu về CSTT và thị trường tài chính Việt Nam.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Bảng tổng hợp chi tiết diễn biến từng ngày hiệu lực của các đợt điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu của NHNN trong giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2010 (Bảng 2.1).
    • Khung lý thuyết tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ và các nhân tố ảnh hưởng được trình bày mạch lạc, logic theo giáo trình quốc tế.
    • Toàn bộ quy trình kiểm định và ước lượng mô hình VAR trên phần mềm EViews (từ kiểm định nghiệm đơn vị ADF, chọn độ trễ bằng Lag Structure đến phân tích hàm phản ứng xung IRF), cung cấp tài liệu mẫu cho các nghiên cứu định lượng vĩ mô tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả lựa chọn Lãi suất tái chiết khấu (LSTCK) làm biến đại diện cho lãi suất điều hành trong mô hình VAR?
Trong điều hành CSTT, NHNN sử dụng nhiều mức lãi suất như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Tuy nhiên, do hạn chế về chuỗi số liệu thống kê đồng bộ và liên tục trong giai đoạn 2008 – 2016, tác giả đã chọn LSTCK làm biến đại diện vì đây là chỉ tiêu có đầy đủ căn cứ văn bản pháp lý quy định rõ ràng của NHNN và phản ánh nhất quán định hướng chính sách qua các thời kỳ.

2. Kết quả mô hình VAR xác định độ trễ của sự truyền dẫn từ lãi suất điều hành sang lãi suất cho vay bình quân là bao lâu?
Kết quả phân tích hàm phản ứng xung (IRF) chỉ ra rằng cú sốc thay đổi lãi suất tái chiết khấu có tác động cùng chiều đến lãi suất cho vay bình quân của các NHTM. Sự phản ứng này diễn ra rất yếu trong quý đầu tiên, nhưng bắt đầu bộc lộ mạnh mẽ và rõ rệt kể từ quý thứ 3 trở đi, chứng minh sự tồn tại của độ trễ truyền dẫn trên thị trường tín dụng.

3. Động thái thắt chặt tiền tệ năm 2011 đã gây ra những hệ quả gì đối với thanh khoản và mặt bằng lãi suất ngân hàng?
Năm 2011, NHNN tăng mạnh LSTCK lên 13% và LSTCV lên 16%, kết hợp hút ròng qua thị trường mở, khiến cung tiền M2 chỉ tăng 12,4% và tín dụng tăng 14,4%. Động thái này dẫn tới căng thẳng thanh khoản hệ thống nghiêm trọng; các ngân hàng chạy đua lãi suất huy động, xé rào mức trần 14% theo Thông tư 02/2011/TT-NHNN để đẩy lãi suất huy động lên 17-18%/năm, kéo theo lãi suất cho vay bình quân thực tế lên 18,74%/năm.

4. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 có điểm thay đổi căn bản nào so với Luật năm 1997 về mục tiêu của chính sách tiền tệ?
Luật NHNN năm 1997 quy định CSTT theo hướng đa mục tiêu (vừa ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội) mà không xác định rõ thứ tự ưu tiên. Đến Luật NHNN năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2011), mục tiêu đã được thu hẹp về dạng đơn mục tiêu trọng tâm theo thông lệ quốc tế, xác định rõ ổn định giá trị đồng tiền (thông qua chỉ tiêu lạm phát) là mục tiêu dài hạn hàng đầu.

5. Tình trạng đô la hóa cản trở cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất như thế nào theo phân tích trong khóa luận?
Tình trạng đô la hóa làm cho NHNN khó kiểm soát và đo lường chính xác tổng khối tiền M2 do lượng tiền mặt ngoại tệ lưu thông tự do ngoài ngân hàng. Đồng thời, khi NHNN tăng lãi suất điều hành để thắt chặt tiền tệ làm lãi suất cho vay VND tăng cao, các chủ thể kinh tế sẽ dịch chuyển sang vay bằng ngoại tệ với lãi suất thấp hơn, làm suy giảm hiệu lực kiềm chế tín dụng của chính sách tiền tệ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp phân tích thực nghiệm chuyên sâu về hiệu lực của cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016. Thông qua việc phân tích thực trạng quản lý vĩ mô kết hợp ứng dụng mô hình Vector Tự hồi quy (VAR), nghiên cứu đã chứng minh lãi suất điều hành có tác động định hướng cùng chiều đến lãi suất cho vay thị trường và tác động nghịch chiều đến lạm phát với độ trễ từ 1 đến 3 quý. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật hữu ích cho việc nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.