Chương 1 TONG QUAN VA TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cà gai leo 1.1 Phân loại khoa học Giới: Plantae Bộ: Solanales Họ: Solanaceae Chi: Solanum L.2 Nguồn gốc và phân bố Ca gai leo (Solanum procumbens L.), còn có tên khác là cà gai dây, ca vanh, cà quýnh, cà lù, cả bò, cà Hải Nam, cà quạnh, gai cườm, là loài thực vật thuộc họ Solanaceae. Loài này phân bố ở các tỉnh miền Bắc cho đến Huế và được tìm thấy ở một số nước nhiệt đới châu A khác như Thái Lan, đảo Hải Nam — Trung Quốc, Campuchia (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Cà gai leo là được liệu rat dé sinh trưởng và phát triển ở nhiều vùng. Tại Việt Nam, dọc khắp các tỉnh từ Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ đều mọc được, từ trên núi xuống đến ven biển.
Cà gai leo ưa đất pha cát, nhanh thoát nước. Nơi tốt cho cà gai leo sinh trưởng và phát triển như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Trị, Hà Nam, Thái Bình, cho đến một số tỉnh Nam Bộ. Trong đó cà gai leo mọc dại ở Quảng Trị được coi là có tác dụng chữa bệnh tốt nhất. Đặc điểm thực vật học Theo Phùng Thị Thu Hà và ctv (2017), mô tả một số đặc điểm thực vật học của cà gai leo gồm: 1.1 Rễ Ré cà gai leo là loại rễ cọc bao gồm 1 rễ chính và nhiều rễ phụ, hệ thống rễ phụ.
Rễ non của cà gai leo có màu trắng với lông hút phủ kín bề mặt, khi già chuyền nâu. Bộ rễ rất phát triển có khả năng ăn sâu nên giúp cây bám chắc vào đất để vươn cành.2 Thân Cà gai leo là loài thực vật thân leo gỗ, cây nhỏ và sống nhiều năm, dai hơn 1 m, thường deo bám trên thân cây khác hoặc bò sát dudi mặt đất. Thân hóa gỗ ở gốc, nhẫn, phân cành nhiều, cành non tỏa rộng, phủ lông hình sao và rất nhiều gai cong, màu vàng (cong theo chiều hướng xuống), khoảng cách các gai giảm dan từ gốc tới ngọn. Thân non có mau xanh, thân gia có màu nâu xám.3 Lá Cà gai leo có lá đơn mọc so le, lá hình trứng hay thuôn, gốc lệch, phía gốc lá hình rìu hay hơn tròn, mép nguyên hay hơi lượn và khía thùy xẻ thùy không đều, mặt trên của lá có gai nhỏ màu xanh thẫm, mặt dưới phủ lông mềm hình sao màu trắng nhạt, phiến dai 3 — 6 cm, rộng 2 — 5,5 cm, cuống lá dài 0,5 — 1 cm, có gai, dai 4 — 5 mm.4 Hoa Hoa của cà gai leo có màu trắng tim, mọc thành cụm từ 2 — 11 hoa mọc ở ngoài kẽ lá, hoa đều, lưỡng tính, không gai.
Cấu tạo hoa từ ngoài vào trong gồm: 4 đài màu xanh, phủ đầy lông che chở; 4 tràng hợp, tạo thành 4 thùy hình trái xoan nhọn; 4 nhị mau vàng, chỉ nhị phình ở gốc; bầu trên, hợp, gồm 2 6 với lối đính noãn trung trụ.5 Quả Cà gai leo có đạng quả mọng, hình cầu, nhẫn, khi non màu xanh lá cây nhạt đến đậm, khi chín có màu đỏ tươi, đường kính 5 — 7 mm; cuống dai 1 — 1,5 em, phủ day lông che chở, phình to ở phần sát quả; có đài đồng trưởng đặc trưng cho họ cà (Phạm Hoàng Hộ, 2000; Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).6 Hạt Hat cà gai leo màu vàng, dang det, hình thận, kích thước 2 — 3 mm, mỗi quả có từ 15 — 30 hạt.4 Cac giai đoạn phát triển của cà gai leo Theo Tăng Binh và Ai Phương (2018), quá trình sinh trưởng của ca gai leo theo 5 giai đoạn: Giai đoạn nảy mắm - cây con: Được tính từ khi gico hạt giống xuống đất, hạt hút ẩm trương lên, rễ mọc ra, thân vươn lên đội hai lá mam lên mặt đất, lá mầm xòe ra, thân mam tiếp tục phát triển thành thân chính. Giai đoạn này dai hay ngắn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Thông thường thời gian kéo dai khoảng 12 — 15 ngày sau g1eo. Giai đoạn phát triển thân, lá: Từ khi cây con ra được 1 — 2 lá thật đến khi cây bắt đầu ra hoa.
Thời kỳ đầu của giai đoạn này cây con sinh trưởng chậm, sau đó nhanh dan đến thời kỳ cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa và chuyền sang sinh trưởng sinh thực. Giai đoạn ra hoa đến khi hoa nở rộ: Từ khi cụm hoa đầu tiên ra cho đến khi hoa nở rộ nhất. Thông thường nụ hoa bat đầu mọc từ đốt thứ 3 — 5 trên cành cấp 2 (khoảng 70%), đốt thứ § — 10 trên cành cấp 1 (khoảng 25%) và ít khi mọc trên thân chính (dưới 5%). Mỗi cụm hoa có từ 2 — 11 hoa, sau đó hoa nở dần từ hoa trung tâm dần ra hai phía.
Hoa trên cành nở nhanh hơn trên thân chính. Giai đoạn hình thành quả: Khoảng 15 — 17 ngày sau khi ra hoa thì qua bắt đầu xuất hiện, khoảng 10 — 15 ngày sau thì qua đạt kích thước tối đa. Day là giai đoạn có dược tính trong cây cao nhất. Giai đoạn chín: Lá bắt đầu vàng và rụng, có một vài quả chín.
Hạt tích lũy chất khô tối đa. Cây bat đầu lui tàn dan.5 Kỹ thuật trồng cà gai leo Theo Cà gai leo — Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế và bảo quản theo tiêu chuẩn GACP - WHO (2020), kỹ thuật trồng cà gai leo như sau: 1.1 Lựa chọn vùng trồng Chọn vùng đất cao, thoát nước tốt, tầng đất sâu dày, đất cát pha. Vùng trồng phải thuận lợi việc tưới tiêu và thoát nước, không chọn vùng đất tring dễ ngập nước, thoát nước kém. Đất càng giàu mun và tơi xốp càng tốt.
Cà gai leo có thé trồng trên đất bãi ven sông, đất nương, vườn nhà.2 Thời vụ trồng Vu 1: tháng 3 — 4 dương lich. Vụ 2: tháng 8 — 9 dương lịch.3 Kỹ thuật làm đất Đất trồng ca gai leo cần được cày sâu phơi ải đề diệt mầm mong sau bénh hai, nhặt cỏ dai và bón vôi cải thiện độ pH. Lên luống: Tùy từng ruộng mà có thể lên luống hoặc không. Những ruộng đất thấp khó thoát nước nên lên luống.
Lên luống theo hướng Đông Tây dé tận dụng tối đa năng lượng ánh sáng mặt trời, chiều rộng mặt luống là 60 cm, luống cao 20 — 25 cm, khoảng cách 2 luống 30 em, mỗi luống trồng hai hàng.4 Kỹ thuật trồng Kỹ thuật bứng cây giống Đối với Cà gai leo được gieo bằng hạt hoặc giâm cành trên vườn ươm, khi cây đạt tiêu chuẩn cao 10 — 15 cm thì có thé bứng cây ra trồng. Dùng xẻng xắn sâu thành từng mảng sao cho cây vẫn giữ được bầu đất thì tỷ lệ sống của cây cao. Không dùng tay nhé sẽ làm đứt rễ, với đất vườn ươm khô thì phải tưới nhẹ nước trước khi bứng cây. Kỹ thuật trồng Sau khi làm đất, lên luéng cuốc dat thành từng hốc, bỏ phân và phủ một lớp dat lấp kín phân.
Đặt cây xuống bên cạnh hốc (không trồng trực tiếp lên phân) sau đó lấp kín đất và ấn chặt xung quanh gốc. Mật độ và khoảng cách trồng: Mật độ trung bình 4. Khoảng cách hốc cách hốc 30 x 30 cm. Trồng xong tiến hành tưới ẩm dé rễ cây tiếp xúc nhanh với đất mới.
Trong điều kiện nắng nóng có thé phủ thêm rom ra đã ủ qua hoặc phủ bằng nilon đen chuyên dùng trong nông nghiệp dé tránh mat nước nhanh.5 Kỹ thuật bón phần Bón lót: Trộn hỗn hợp phân chuồng, vôi, lân, kali cho vào hốc sau đó phủ 1 lớp đất lên. Bón thúc chia làm ba lần: Lần 1: Bón đạm kết hợp với làm cỏ và xới váng. Lần 2: Trộn đều đạm và kali bón theo hốc kết hợp làm cỏ. Lan 3: Bon đạm kết hợp với kali và làm cỏ.
Khi bón cần lưu ý: Bon cách gốc 5 — 10 em, trách tiếp xúc trực tiếp vào lá, sau khi bón vun đất phủ kín phân bón. Trước khi bón thúc lần 2, tiến hành ngắt ngọn cây, dé chiều cao cây trung bình 20 — 25 cm. Lần bón phân cuối cùng phải cách ngày thu hoạch khoảng 40 ngày dé dam bảo thời gian cách ly tránh tồn dư phân bón trong được liệu.6 Làm cô và tưới nước Làm cỏ: Được tiến hành sau trồng 15 ngày, nhé cỏ gốc, kết hợp xới xáo váng, tạo điều kiện cho cây phát triển. Việc làm cỏ được tiến hành dựa vào kiêm tra đồng ruộng định kỳ và mức phát triển cỏ dại.
Cỏ nhé xong được thu gom va đưa ra khỏi ruộng tránh sâu bệnh trú an. Tưới nước: Trong thời gian đầu khi mới trồng đến 5 ngày, việc tưới nước cần phải duy trì từ 2 lần/ngày. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ âm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc, luôn đảm bảo thoát nước tốt.6 Thành phần hóa học Flavoloid có nhiều chức năng, là một loại chất chuyên hóa trung gian của thực vật, một sắc tố sinh học, sắc tố thực vật quan trong tạo ra mau sac cua hoa. Trong y hoc, flavonoid làm bền thành mạch, được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mach, rối loạn tuần hoàn võng mạc, có tác dụng chống độc, giảm thương tồn gan, bảo vệ chức năng gan.
Saponin là glucosides, một trong những thành phần hóa học của các loại thảo mộc có tác dụng giảm cholesterol giảm nguy cơ gây ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch, chống oxy hóa. Solasodine có hoạt tính kháng viêm và bảo vệ gan, chống lại tế bào ung thư, solasodine còn là tiền chất dé sản xuất các loại corticosteroid, testosteroid và thuốc tránh thai. Ngoài ra solasodine còn có tác dụng chống oxy hóa, ngăn ngừa xơ gan. Alkaloid là amin nguồn sốc tự nhiên đo thực vật tạo ra thường là các dẫn xuất của các acid amin va phan nhiéu trong số chúng có vị đẳng một số lại được sử dụng trong y học với vai trò như là các chất giảm đau hay gây tê, cụ thể như morphin hay codein.
Glycoalkaloid là hoạt chất có tác dụng rất tốt trong việc ức chế sự nhân lên của virus viêm gan B. Hoạt chất này còn chống viêm, ngăn ngừa hình thành tổ chức xơ trong tế bào gan, giúp tăng cường chức năng gan, bảo vệ và giải độc gan. Cà gai leo có thé dùng chữa ngộ độc rượu rất tốt, chống say rượu, tác dụng giải rượu mạnh (Đỗ Tất Lợi, 2006). Theo Nguyễn Phúc Thái (1998), nghiên về tác dụng bảo vệ gan của cà gai leo trên thực nghiệm, cà gai leo có tác dụng hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc, giảm sự hủy hoại tế bào gan, ngăn chặn thoái hóa mỡ vả hiện tượng chảy máu vi thé trong nhu mô gan.