Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số cơ sở lý luận về sử dụng đất lúa và tình hình sử dụng đất lúa trên thế giới và Việt Nam 1. Một số lý luận về sử dụng đất lúa 1. Khái niệm và phân loại đất trồng lúa Theo Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 [6] thì đất trồng lúa (LUA): là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương.
+ Đất chuyên trồng lúa nước (LUC): là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một năm. + Đất trồng lúa nước còn lại (LUK): là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước. + Đất trồng lúa nương (LUN): là đất nương, rẫy để trồng từ một vụ lúa trở lên. Sử dụng đất lúa hiệu quả 1.
Sử dụng đất lúa hiệu quả Theo Nguyễn Văn Toàn (2003) [29] sử dụng đất lúa hiệu quả và bền vững là nền tảng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và là một bộ phận hợp thành của chiến lược sử dụng đất bền vững ở nước ta. Do vậy cũng phải sử dụng 3 tiêu chí là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Các tiêu chí này đã được sử dụng từ khi có khái niệm về sử dụng đất bền vững. Theo JUCN và UNDP (2003) [41] đưa ra định nghĩa "Quản lý sử dụng đất bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm khái quát hoá những nguyên lý cơ bản về kinh tế - xã hội và môi trường với mục tiêu đồng thời: - Duy trì và nâng cao sản xuất và các dịch vụ (sản xuất) - Giảm thiểu rủi ro cho sản xuất (an toàn) - Bảo vệ tiềm năng các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa chất lượng đất/nước (bảo vệ).
- Có khả năng thực thi được về mặt kinh tế (thực thi) n 4 - Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (chấp nhận) Theo JUCN (1993) [20]; Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2006) [38] và Cục Bảo vệ Môi Trường (2003) [12] đã cụ thể hoá những định hướng nói trên với mục tiêu thay đổi tư duy trong sử dụng đất, không chi vì mục tiêu kinh tế mà còn phải quan tâm đến vấn đề xã hội và bảo vệ được tài nguyên, môi trường để khai tác lâu dài. Tiêu chí đánh giá sử dụng đất lúa hiệu quả Do tầm quan trọng đặc biệt của sử dụng đất bền vững mà đã được nhiều tổ chức quốc tế, nhà khoa học nghiên cứu và đề xuất các tiêu chí về sử dụng đất bền vững (FAO, 1993; Trần An Phong và cs, 1995 [22]; Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998 [25]; Nguyễn Văn Toàn, 2004 [30]; Lê Văn Khoa, 2004; Đào Thế Tuấn, 2007) nêu ra, chủ yếu hướng vào 3 yêu cầu sau: - Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận. - Bền vững về mặt môi trường: loại sử dụng đất phải duy trì được độ phì tự nhiên ở mức chấp nhận được, ngăn chặn sự thoái hóa. - Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa tại Việt Nam cũng dựa vào những nguyên tắc nói trên nghĩa là một loại sử dụng đất được xác định là có hiệu quả hay bền vững phải thỏa mãn 3 tiêu chí gồm: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
Nguyễn Văn Toàn (2003) [29] khi thực hiện chương trình “Điều tra đánh giá thích nghi đất lúa phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng duyên hải Bắc Trung Bộ” đã đề xuất khải niệm đất lúa hiệu quả là những đất có khả năng tưới và tiêu chủ động, có thể sản xuất 2 vụ lúa chắc ăn, đất không có hoặc có các yếu tố hạn chế nhưng ở mức độ nhẹ và là hạn chế chung của vùng, năng suất lúa cao và ổn định. Những nguyên tắc trong sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất lúa ở Việt Nam 1. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Theo Phạm Tiến Dũng, (2009) [16] thì sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc sau: - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây n 5 trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư , hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu - Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường.
Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài. Theo Đỗ Kim Chung và cs, (1997) [8], Đất đai là sản phẩm mà tự nhiên ban tặng cho con người nhưng diện tích đất đai là có hạn và ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa mà đất nông nghiệp biến thành các khu đô thị, khu công nhiệp hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Như vậy cần phải quy hoạch và sử dụng đất đai hợp lý đồng thời quản lý chặt chẽ để vừa đảm bảo nâng cao thu nhập cho người nông dân vừa đảm bảo an ninh lương thực Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia. Nguyên tắc quản lý sử dụng đất lúa ở nước ta Do tầm quan trọng đặc biệt của sản xuất lúa gạo đối với vấn đề an ninh lương thực nên ngay từ năm 1995 đã có nhiều nghị định, Chỉ thị liên quan đến sử dụng đất lúa của Đảng và nhà nước như Chỉ thị số 391/QĐ-TTg [27] và Chỉ thị số 247/TTg ngày 28/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ [26] về khả năng khắc phục tình trạng giảm sút diện tích trồng lúa nước, Chính phủ đã quy định “Trường hợp đặc biệt, buộc phải dùng đến đất trồng lúa nước đã có hệ thống thủy nông bảo đảm tưới, tiêu chủ động có năng suất cao và ổn định thì phải thuyết minh thật cụ thể, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định từng dự án mới được thực hiện”.
n 6 Trong Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23/12/2010 của Chính phủ [9] về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia có nêu nhiệm vụ về quy hoạch đất lúa: “Để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 diện tích đất lúa cần phải giữ là: 3,8 triệu ha, trong đó: 3,2 triệu ha đất lúa sản xuất hai vụ trở lên, có thủy lợi hoàn chỉnh”. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa IX cũng đã nhấn mạnh ”Quản lý chặt chẽ, bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, đặc biệt là đất tốt trồng lúa theo quy hoạch để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”. Tiếp theo là Nghị định 42 và mới đây là Nghị định số 35/2015/NĐ - CP ngày 13/4/2015 về việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa [11]. Nghị định này nêu rõ về việc chuyển đổi đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp: (1) Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải thực hiện các quy định của pháp luật về đất đai và phải nộp một khoản tiền để bảo vệ, phát triển đất trồng lúa”; (2) Tùy theo điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức nộp cụ thể nhưng không thấp hơn 50% số tiền được xác định theo diện tích đất chuyên trồng lúa nước phải chuyển sang đất phi nông nghiệp nhân với giá của loại đất trồng lúa tính theo Bảng giá đất tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất; (3) Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất lập bản kê khai số tiền phải nộp, tương ứng với diện tích đất chuyên trồng lúa nước được nhà nước giao, cho thuê và nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định.
Như vậy có thể thấy rằng, yêu cầu về đảm bảo ANLT và bảo vệ đất trồng lúa, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa nước đã được thể hiện rất rõ trong chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước. Bảo vệ đất trồng lúa nước nhằm đảm bảo nguồn cung lúa gạo cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu trong tương lai. Tình hình sử dụng đất lúa trên thế giới và Việt Nam 1.Tình hình sử dụng đất lúa trên thế giới Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông - lâm nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận.
Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển. Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền, nhưng loại đất tốt chỉ chiếm 12,6% còn lại đất trung bình và đất xấu.